Giới thiệu bản thân

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

Đi qua cuộc chiến tranh... TRÊN XỨ BUỒN MUÔN THUỞ (tiếp theo)

Đi qua cuộc chiến tranh...
TRÊN XỨ BUỒN MUÔN THUỞ (tiếp theo)

4.
Tôi còn dẫn toán đi công tác mấy chuyến nữa. Đặc biệt, một lần biệt phái hai tuần cho chi khu Kiến Đức, tỉnh Quảng Đức, cùng với toán của Thiếu úy Nguyễn Cảnh Lộc, bạn học cũ ở Nha Trang. Liên toán có nhiệm vụ làm công tác Dân sự vụ, lần này hướng dẫn vệ sinh, tại các ấp Thượng B’râu, còn gọi là “Thượng Cà Răng Căng Tai”. Chi khu cung cấp thông dịch viên và phương tiện, cuốc xẻng chẳng hạn, nếu cần. Lần đầu đến một buôn Thượng, lại gặp lúc trời mưa, đường trơn và đầy bùn đỏ, xe bị trợt bánh, phải xúm nhau đẩy, tôi thấy nản quá. Họ ở dơ thật. Người nằm ngủ trên sàn, trâu bò, heo gà vịt ngủ dưới sàn, phân súc vật trộn lẫn, nặng mùi. Nước ăn và nước rửa lấy từ một con suối duy nhất. Chưa nói đến tục xăm mặt, trai gái, già trẻ gì cũng phải mài hết hai hàm răng, và kéo hai tai thành một lỗ bự đặt vừa một đồng xu, trông rất ghê, nhất là khi họ cười. Thông dịch viên cắt nghĩa: “Đàn bà con gái phải như vậy mới được gọi là đẹp”. Liên toán thay nhau đào giếng nước, hố vệ sinh cho dân, trong khi mỗi ngày y tá khám bệnh, phát thuốc. Đào xong, họ lại không đi vào hố, và buổi sáng trở lại, chúng tôi thấy phân người rải rác khắp lối. Cái giếng cũng bị bỏ trống, dân vẫn rủ nhau ra suối. Quận Kiến Đức buồn rợn người, lẻ tẻ có vài nóc gia người Kinh. Khi màn đêm buông xuống sương mù bao phủ như một dải lụa trắng. Đứng trên lô cốt, tôi ngắm trăng sao, buồn nhớ quê nhà. Xa xa, một vùng có ánh đèn lung linh hắt lên nền trời. Một lính chi khu bảo tôi: “Phía đó là Căm Bốt đó, ông thầy!”.
Một lần khác, tôi phải dẫn một toán đến Lâm Đồng theo tiểu đoàn 22 Biệt Động Quân hành quân giải tỏa một đồn điền cà-phê giữa rừng, bị VC chiếm giữ. Đến nơi thì chúng đã “chém vè” (rút lui) trước, bỏ lại một kho gạo và hai máy phát điện, và Tiểu đoàn tiến quân dễ dàng, không tốn một viên đạn...
Sau chuyến này, tôi có thể được nghỉ một tháng hơn, tính theo phiên, nếu không có công tác đòi hỏi bất ngờ. Một buổi chiều, trở về nhà, Thiếu úy Tải nói riêng với tôi:
- Trung tá Trung đoàn trưởng 45 Võ Văn Cảnh mới gọi tớ, ổng nghe nói trong trung đội mình có một sĩ quan trước là giáo sư Pháp văn, tớ mới nghĩ đến cậu...
Tôi cắt ngang:
- Để làm gì?
- Ông đang tìm một giáo sư đến nhà dạy kèm Pháp văn cho ba người con của ổng.
Tôi lưỡng lự:
- Đây có phải là lệnh?
- Không. Ổng nói ổng sẽ trả tiền dạy. Cậu có thể từ chối, ổng sẽ đi kiếm người khác, không sao cả. Vả lại, ổng không chỉ huy trực tiếp tụi mình, cho nên cậu không ngại nếu từ chối. Nhưng tại sao phải từ chối?
Tải để tôi tự do suy nghĩ một ngày. Tôi hỏi ý kiến Khôi Trán Cao, đang nằm đọc sách. Khôi ngồi nhổm dậy, chậm rãi nói: “Nên lắm chứ, toa có đầy đủ điều kiện. Moa muốn, cũng chưa chắc được. Không phải hễ nói tiếng Pháp được, như moa, là dạy được. Phải chuyên môn!”
Tôi đồng ý.
Và chiều hôm sau, đúng giờ hẹn, Trung tá Cảnh trong bộ đồ dân sự, đích thân lái xe jeep nệm bọc vải trắng dành cho Trung đoàn trưởng đến căn nhà ma đón tôi về tư thất của ông. Vừa lái, ông vừa hỏi về gia thế, đời lính, công tác v.v... đủ chuyện, một cách rất thân tình, gọi tôi bằng “thầy”, cười tươi, không còn vẻ oai nghiêm, dõng dạc như khi ông thuyết trình hành quân tại Sư đoàn. Đó cũng là lần đầu tiên tôi nói chuyện riêng với ông, được quan sát ông rõ gần: ông cao lớn, mặt trắng trẻo, cương nghị, và theo tôi là mẫu người đàn ông đứng tuổi đẹp trai, hùng dũng. Tôi cảm thấy yên tâm.
Tư thất có sân rộng, kiến trúc như một biệt thự nhỏ kiểu Pháp. Bà Trung tá đón tôi tại cửa. Dáng người quý phái, cử chỉ lịch sự, nói năng nhỏ nhẹ, bà cho tôi một cảm nghĩ rất tốt. Ba người học trò mới của tôi –hai cô lớn xinh đẹp và một cậu nhỏ mặt mày sáng sủa, thông minh– đang ngồi chờ tại bàn với sách vở sẵn sàng, thấy tôi vụt đứng dậy như máy, lễ phép “chào thầy”. Tôi yêu thích những học trò lễ phép. Nhìn hai cô, tôi nhớ những nữ sinh trạc tuổi ở trường Collège Nha Trang mà tôi đã bỏ lại sau lưng gần hai năm. Trung tá Cảnh giới thiệu:
- Đây Như Hường, chị cả, đây Bích Thủy, đây Huy.
Và dặn dò các con:
- Ráng học cho đường hoàng, đừng làm thầy phiền lòng.
Ông bà lui vào phòng. Tôi nhìn quanh, thấy bên bức tường đối diện, sau tấm màn hoa mỏng, thấp thoáng những bóng “con nít” mà tôi đoán là đám em của Như Hường đang nhìn chăm chú, chỉ trỏ về phía ông thầy mới. Có tiếng cười khúc khích, rồi sau đó im bặt, tất cả biến mất theo lệnh của bà mẹ.
Tôi cho một bài test thử trình độ. Cả ba cũng gần bằng nhau, mặc dù, dĩ nhiên, Như Hường khá hơn, và để tiện, tôi quyết định cho cả ba vào cùng một lớp, soạn chương trình riêng, chú trọng phần phát âm, nói chuyện, đặt câu, bắt đọc trước cho hôm sau một bài văn ngắn trong đó tôi sẽ nhân tiện giảng một số ngữ vựng và vài luật văn phạm, v.v... Mỗi bữa có trả bài (questionnaire) và viết một bài chánh tả (dictée). Trong suốt hai tiếng, tôi nói tiếng Pháp, trừ khi giảng văn phạm, và bắt tất cả nói tiếng Pháp, theo tôi. Tôi biết cả ba rất khổ, vì không quen. Như Hường là chị lớn tự nguyện nói nhiều làm gương, Bích Thủy, rất nhút nhát, có hỏi mới trả lời, nhưng học rất chăm. Huy thường im lặng, chờ thầy gọi đích danh mới nói vài câu ngắn. Một bữa gặp một bài dictée khó quá, Huy ngồi cắn bút, lặng lẽ khóc, tôi phải ngưng, và chuyển sang mục khác.
Sau một tháng, tôi thấy cả ba có tiến bộ, hoặc ít ra, đã quen với lối học, nhất là bạo dạn nói tiếng Pháp hơn. Xong lớp, Trung tá Cảnh đích thân lái xe đưa tôi về nhà, và như thế trong suốt thời gian tôi dạy tại tư gia. Tôi thầm cám ơn ông về cách đối đãi rất ân cần, lịch sự với thầy giáo và nhất là, trong trường hợp của tôi, với cấp dưới. Một tối, lúc đưa về, ông hỏi hai ngày cuối tuần nếu tôi có muốn đi chơi đâu, hay đi lễ nhà thờ, ông sẽ cho tài xế đến đón đưa. Tôi cám ơn, và trả lời tôi nếu cần đi đâu sẽ nhờ xe của Thiếu úy Tải, không dám làm phiền ông.
Ông cười, dễ dãi: “Cũng tùy thầy!” Bữa khác, sau lớp dạy, bất ngờ ông mời tôi ở lại ăn cơm. Bà Trung tá và hai cô học trò lo dọn các món. Dĩ nhiên, cơm hàng cháo chợ đã lâu, nay được ăn một bữa thịnh soạn dưới một mái gia đình mà tôi nhận xét đầy hạnh phúc và đầm ấm, làm sao tôi không thấy ngon miệng. Có thêm chai bia, tôi ăn nói, theo nghĩa đen, ăn và nói, tự nhiên hơn. Một lúc nào đó, Trung tá Cảnh bảo tôi:
- Khi nào hai bác ở Nha Trang lên Ban Mê Thuột, thầy cho tôi biết, chúng tôi xin mời hai bác đến nhà chúng tôi chơi.
Tôi vâng dạ, nhưng không biết có ngày nào ba mẹ tôi đến xứ Buồn Muôn Thuở này.
Dạy như vậy được một tháng rưỡi thì đến phiên tôi phải đi công tác. Tôi báo cho Trung tá Cảnh biết, và vì tế nhị, ông không can thiệp với Thiếu úy Tải. Thiếu úy Tải không thể viện cớ gì để nhảy qua phiên của tôi. Phần tôi vui vẻ vác súng và ba-lô ra đi, và như thường lệ bỏ theo trong bốn túi quần trận một bịch kẹo nougat, một phong chocolat Meunier, một quyển Truyện Kiều, và tập thơ Les Fleurs du Mal của Baudelaire. Việc dạy học bị gián đoạn, hoặc khó lòng tiếp tục như trước, vì những cuộc hành quân lúc ấy diễn ra liên miên, có khi Đại đội TLC-DSV phải cung cấp từ ba đến bốn toán một lúc.
Công tác vừa về, tôi được nghỉ mấy hôm. Lạicó lệnh hành quân cấp trung đoàn tại Khánh Dương do Trung tá Cảnh đích thân chỉ huy. Lần ấy là phiên của Khôi Trán Cao, hay Quang Học Giả, thì buổi sáng Thiếu úy Tải thông báo trước hàng quân:
- Trung tá Cảnh muốn đích danh Chuẩn úy Quý đi công tác kỳ này.
Ai nấy ngạc nhiên, nhìn nhau. Riêng tôi hiểu đó là một ưu đãi ông dành cho tôi. Sáng ấy, sau khi chiếc xe dodge của toán TLC-DSV nhập vào dòng xe của Trung đoàn, một binh sĩ đến nói: “Trung tá Trung đoàn trưởng muốn Chuẩn úy đi gặp ông”. Tưởng việc gì, thấy tôi ông tươi cười hỏi, “thầy khỏe không ?” và bắt tôi ngồi lên xe jeep chỉ huy của ông, khiến tài xế và viên sĩ quan truyền tin lấy làm lạ, hỏi nhỏ tôi có phải là thân nhân của Trung tá Cảnh hay của Chuẩn tướng Nguyễn Văn Mạnh, lúc đó là Tư lệnh Sư đoàn 23. Tôi lắc đầu, nói không phải, nhưng không giải thích thêm.
Đến Khánh Dương, Bộ Chỉ huy Hành quân dựng trại phía ngoài bìa rừng, bên quốc lộ 21 đi Nha Trang. Các cánh quân chia nhau bung ra khắp vùng. Còn toán tôi phải xuống dưới một buôn Thượng cách đó khoảng mười phút đi bộ. Buôn ấy của người Ra-đê, vì vậy lần này Trung sĩ Y Ksor đi theo công tác, làm toán phó và thông dịch. Nhà cửa trong buôn gọn ghẽ, ngăn nắp, nhưng người và vật ngủ chung, như dân B’râu tại Kiến Đức. Ở đây, đặc biệt, có một bông hoa rừng biết nói, mà sĩ quan Sư đoàn 23 nào, kể cả những người chưa đi toán bao giờ như Thiêu úy Mỹ và Thiếu úy Tải, đều nghe tiếng. Danh bất hư truyền. Cô tên H’(Hờ) Mai, da trắng, mặt trái xoan, mắt to đen, mũi thẳng, và tóc dài buông xõa, như đầm
lai, nhưng biết mắc cỡ như cô gái Việt. H’Mai không nói tiếng Việt, nhưng nghe hiểu. Mấy anh lính Sư đoàn, học lóm được câu “bắt cái nước” (làm... yêu, make love), gặp cô liền thả dê: “H’Mai thương anh không, cho anh bắt cái nước chút chút đi”, khiến cô thét lên, hoảng kinh, bỏ chạy vào nhà. Mỗi ngày tôi cử một binh nhì ở lại lều, gần Bộ Chỉ huy Trung đoàn, lo nấu ăn, còn lại chín người gồm tôi và một y tá vào buôn làm công tác dân sự vụ, phát thuốc, hướng dẫn vệ sinh...
Một buổi sáng, như thường lệ, tôi sắp sửa dẫn toán đi thì một binh sĩ Trung đoàn đến lều, theo sau là bà Trung tá Cảnh, Như Hường và Bích Thủy. Tôi ngạc nhiên. Bà bảo:
- Chúng tôi đi Nha Trang, biết thầy ở đây, ghé thăm thầy một chút.
Sự việc xảy ra quá bất ngờ, làm tôi cảm động, không thốt nên lời, chỉ chào và nói cám ơn. Nghỉ dạy từ chuyến công tác sau cùng, tôi chưa gặp lại bà và hai cô học trò ngoan. Như Hường đứng ngắm nghía tôi, khen:
- Lần đầu em thấy thầy mặc đồ lính, trông lạ và oai ghê.
Tôi cười:
- Lạ thì có lạ, nhưng oai thì còn xét lại đó em...
Tôi hỏi thăm sức khỏe bà và hai cô, “thuyết trình” công tác dân sự vụ của chúng tôi như thế nào, ăn ở ra sao. Rồi giao công việc cho Trung sĩ Y Ksor, và khoảng mười lăm phút sau đó, tôi đích thân đưa bà và hai cô trở về Bộ Chỉ huy Trung đoàn. Tại đây, Trung tá Cảnh bảo tôi ở lại với ông. Sau khi ba mẹ con đáp xe đò đi Nha Trang, ông vừa nghe các cánh quân báo cáo “vô sự” qua máy vô tuyến khuếch đại vừa cho mở sòng xì phé nhỏ chơi với các sĩ quan tham mưu. Ông để tôi ngồi cạnh xem ông đánh bài, thỉnh thoảng hé cho tôi thấy con bài tẩy, và cười sảng khoái khi tháu cáy ăn. Rồi dùng cơm trưa tại chỗ.
Các sĩ quan Trung đoàn nhìn tôi, ngạc nhiên, có lẽ tự hỏi: “Thằng chuẩn úy này là ai mà ngon lành vậy cà, chắc có bà con với bà Trung tá chăng...” Có người cười thân thiện với tôi –điều hiếm hoi, vì thường họ không mấy có cảm tình với TLC “ăn rồi nói dóc”. Có người nhờ tôi xin ông về một chuyện rất cá nhân –điều mà tôi từ chối, dĩ nhiên, lấy cớ tôi không là gì cả, cấp bậc quá nhỏ...
Cuộc hành quân Khánh Dương kết thúc sau mười ngày, không báo trước. Ngày chót, như thường lệ, toán tôi xuống buôn, và bất ngờ gặp lại H’Mai đang giặt quần áo tại dòng suối. Dưới bầu trời âm u đầy sương mù, mặt cô có vẻ buồn buồn, không hồn nhiên tươi cười như mọi khi, chẳng hiểu sao. Đó cũng là lần cuối tôi thấy cô. Không có lời giã từ lưu luyến, nhưng lòng tôi thấy tiếc vẩn vơ cho một bông hoa đẹp phải chôn vùi hương sắc và tuổi xuân trong một góc rừng hoang vu. Và thầm mong một anh lính người Kinh nào chịu khó vô buôn rước cô về dinh, ngoài thành phố. Nhưng biết đâu, tại đây, cô thấy hạnh phúc hơn?
5.
Về lại Ban Mê Thuột thì được tin Tải lên Trung úy và sắp đi Mỹ học khoá TLC-DSV, Khôi Trán Cao đã được đổi về trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Còn lại Quang Học Giả và tôi. Tôi cũng được thăng cấp Thiếu úy. Đêm trước khi lên đường, Tải tâm sự nhiều, dẫn tôi vào phòng trà ca nhạc, để tôi gặp lại Mộng Lan. Lan không nhận ra tôi, vì “anh sao có vẻ phong trần quá vậy, không còn trắng trẻo như xưa”, tôi bèn bắt chước Hùng Cường hát một câu khôi hài vô duyên, “lính mà em”. Cô phá ra cười, tôi càng quê hơn. Trình độ nhảy nhót của tôi không khá hơn chút nào, Lan bảo, “chỉ có ôm em thì anh tiến bộ thấy rõ, em nghe mấy ông lính của anh nói anh có ôm thực tập các cô Thượng trong buôn, như H’Mai, rồi phải không?” Đêm ấy, cô đãi tôi hai bản, một slow và một rumba, và một nụ hôn bất ngờ lướt nhẹ lên môi –chưa đủ thiết tha cho lòng còn mãi tiếc nhớ. Ngồi dựa sát vào ngực tôi, cô tỉ tê, giọng đầy nước mắt:
-Thấy anh hiền, em thương quá. Quen em, anh không bao giờ đòi hỏi gì nơi em, không như những người đàn ông khác, coi em như một món đồ chơi và nghề vũ nữ của em rất tệ. Anh luôn đối xử đứng đắn với em, em cám ơn anh...
Tải đi Mỹ, Trung úy Lê Đồng lên thay, và sau đó, Trung đội DSV sáp nhập vào Đại đội TLC để trở thành Đại đội 203 CTCT, do Trung úy Nguyễn Văn Mỹ chỉ huy. Cũng trong thời gian này, tôi được lệnh dẫn
một toán xuống quận Thiện Giáo (Ma Lâm cũ), Phan Thiết, tăng phái vô hạn định cho Tiểu đoàn 4, thuộc Trung đoàn 44 đóng tại Sông Mao, trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn của ông tướng thành thị Nguyễn Đức Thắng. Đồng thời cũng có lệnh, sau chuyến công tác này, thuyên chuyển thẳng về Đại đội 202 CTCT Qui Nhơn, do chính ông cậu tôi, đại đội trưởng, làm đơn xin theo lời yêu cầu của bà chị, tức mẹ tôi. Biết đi lần này là bỏ luôn Xứ Buồn Muôn Thuở, tôi trả nhà đường Huyền Trân Công Chúa và từ giã một vài người thân quen. Tôi đến tư thất Trung tá Võ Văn Cảnh. Ông nắm chặt tay tôi, chúc những lời tốt đẹp nhất. Bà Trung tá Cảnh, hai cô Như Hường và Bích Thủy, đứng ở cửa thật lâu, vẫy tay chào.
Tôi không có người yêu để bịn rịn tiễn đưa. Tải đi rồi, tôi không còn dịp, mà cũng không muốn, gặp lại Mộng Lan.
...
(Trích TRÊN XỨ BUỒN MUÔN THUỞ-Phần 4&5 của KIM THANH đăng trêndongsongcu.wordpress.com)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét