Giới thiệu bản thân

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Hai, 23 tháng 10, 2017

HEO RỪNG LỤC CHIẾC

Thợ rừng không sợ cọp beo, chỉ sợ đụng phải heo lăn chai...
HEO RỪNG LỤC CHIẾC
...
Heo rừng có tên khoa học là Sus Scrofa, là giống vật du cư sống theo bầy đàn cùng bộ lông sọc vằn màu xám nâu đặc trưng. Khi trưởng thành, những con đực tách bầy nhưng vẫn đi lẩn khuất, lầm lũi song song với bầy để bảo vệ. Vì sự tách bầy độc hành này, các thợ rừng gọi nó là lục chiếc. Có người gọi sai là độc chiếc. Theo Hán nghĩa, lục có nghĩa là chai sạn, chiếc có nghĩa là duy nhất.
Để tự tạo bộ giáp khí cho mình, heo lục chiếc thường mài nanh vào thân cây gỗ dầu chai. Để khi thân dầu chai tiết ra chất nhựa, chàng heo lăn bộ lông cứng vào chất dẻo đó (vì vậy thợ rừng còn gọi là heo lăn chai). Khi nhựa dầu khô, bộ lông heo trở thành một thứ giáp cứng để bảo vệ mình. Heo cái chỉ lo dẫn dắt heo con kiếm ăn, không quan tâm đến kẻ thù vì đã có heo lục chiếc bảo vệ từ xa.
Heo lục chiếc có bộ dáng rất ngầu, mông thấp, đầu to. Chiếc đầu quá khổ có cặp nanh cứng và sắc luôn dựng ngược lên chờ đối thủ. Nếu nói cọp là chúa tể rừng già thì heo lục chiếc là… dũng sĩ diệt chúa. Bởi, đối diện với một con heo lục chiếc trưởng thành, cọp thường cụp đuôi chạy thẳng sau một trận tử chiến. Với cặp nanh chĩa ngược kỳ quái và độ lỳ đòn kinh dị, heo lục chiếc thường hung hãn tấn công bất ngờ bất kỳ con vật nào ngay khi vừa giáp mặt. Khi đã chiến đấu thì nó không bao giờ bỏ chạy trước bất kỳ đối thủ nào, "chơi" đến chết mới thôi.
Thợ săn rừng khi gặp heo lục chiếc thường trèo nhanh lên cây rồi mới tìm cách bắn hạ. Nếu chậm chân, hiếm khi toàn mạng sau cú tấn công dũng mãnh đầu tiên của gã heo hiếu chiến, lỳ lợm. Thợ rừng chuyên nghiệp không sợ cọp, beo mà chỉ sợ bất chợt đụng phải gã heo rừng lãng tử, độc hành lục chiếc.
...
...
Dân rừng khẳng định, trước khi chết, heo thường lấy hơi tàn cắm sâu cặp nanh giấu vào thân cây rồi mới chết. T... khẳng định: "Heo cũng như người, gần chết thì sức đâu mà cắm nanh vào cây. Nó chỉ cắm nanh xuống đất thôi. Mà không phải cắm để giấu nanh đâu. Nó cắm nanh vì tàn sức. Heo là giống lỳ lợm, còn chút hơi là nó vẫn hoạt động. Đang ủi đất kiếm ăn thì sức lực cuối cùng chợt tắt, thì nanh không cắm vào đất mới lạ. Đó là lý do thợ rừng luôn thấy xác heo già mới chết đều cắm ngập mặt vào đất và họ thêu dệt thành câu chuyện heo giấu nanh trước khi chết. Lại còn giấu nanh vào thân cổ thụ nữa mới ghê".
(Trích trong "Nghĩa địa heo rừng và chiếc nanh giá chục nghìn đôla" trênhttps://vnexpress.net/)
*** ***
Vì sao nanh heo rừng lại khiến nhiều người muốn mua như vậy?
Với giới buôn bán vốn có chút niềm tin tâm linh thì quan niệm nanh heo rừng như một thứ bùa hộ mạng may mắn sẽ giúp họ thâu tóm thời vận luôn thịnh vượng, đem đến những điều tốt lành trong kinh doanh, thăng tiến về địa vị xã hội, đem lại những khoản hợp đồng kinh tế có lợi cho họ, tránh bị đối thủ chơi xấu sau lưng. Còn với dân cờ bạc như đá gà, chơi số đề, cá độ… thì kháo nhau rằng mang nanh heo rừng trên người sẽ được yểm trợ cho chơi đâu thắng đó.
...
Trong các loại nanh heo rừng thì từ xưa đến nay, đối với người Việt Nam, những nanh heo rừng có công năng mạnh gọi là nanh heo rừng rủ (hoặc rũ). Theo truyền tụng thì nanh heo rừng rủ là nanh của những con heo rừng thành tinh, sống lâu năm trong rừng sâu và đạt đến hạng thượng thừa về khả năng sinh tồn. Những con heo rừng đó khi chết đi thì toàn bộ sức manh của nó sẽ dồn vào cặp nanh và sở hữu được nó là thiên duyên cực kỳ hiếm có. Người ta gán ghép cho nó rất nhiều quyền năng vô song như là: đạn bắn không trúng, tránh được tai họa, buôn may bán đắt, thuốc chữa bệnh nan y… Và đây cũng là loại nanh ưa chuộng nhất bởi phép màu huyền bí của nó khi được “yểm bùa”. Chưa rõ thật giả thế nào nhưng giá của loại nanh này cũng cao gấp nhiều lần so với loại nanh thường.
Trước năm 1975, ở Việt Nam, nhiều người lính... tin rằng, người đeo nanh heo rừng già khi bị bắn, đạn sẽ không trúng...
...
(Trích theo "Thú chơi… nanh heo rừng" của Thế Vinh đăng trênhttp://petrotimes.vn/thu-choi-nanh-heo-rung)

Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017

ĐI TÌM LỜI RU NỮ THẦN MẶT TRỜI

Một mình lang thang trên đất này, theo dấu chân cha ông từng ngày...
ĐI TÌM LỜI RU NỮ THẦN MẶT TRỜI
"Với người Ê Đê theo mẫu hệ của chúng tôi, mặt trời là nữ thần, và mặt trời cũng là người mẹ. Bởi vậy khi tôi viết "Đi tìm lời ru nữ thần mặt trời là tôi viết cho mẹ của mình" - Y Phôn kể lại. Hồi ấy, năm 1992, đang đi biểu diễn với Đoàn Ca múa Đắc Lắc thì được tin mẹ ốm, anh vội về nhà, đến nhà mới hay tin mẹ đã đi vào rẫy.
Tháng tư mùa đốt rừng, những con đường bụi đỏ cuốn lên cùng với khói, một mình Y Phôn đi tìm mẹ, và ý nhạc cứ thế nảy ra như có ai đọc sẵn trong đầu: Một mình lang thang, trên đất này, theo dấu chân cha ông từng ngày / Một mình qua sông, qua núi đồi, tìm mặt trời và tìm lời ru ngàn đời... Qua đoạn đường dài gần chục cây số vào đến rẫy, nhìn thấy mẹ đang khỏe mạnh, gặp Y Phôn, mẹ cười, lời nhạc bỗng vút lên sáng bừng: Hát giữa mọi người, không ngại ngần, lời hát nữ thần mặt trời, nữ thần mặt trời của tôi... Điều đó như lý giải vì sao mà mỗi khi ca khúc này được hát lên, những người mẹ Ê Đê lại kéo tay áo thô thấm nhẹ vào khóe mắt...
( Trích theo "Y Phon K' Sor - Hát giữa mọi người không ngại ngần" trên báo ND)
...
Và càng rõ hơn, chói ngời hơn, khi sau đó bạn cho ra bài hát “Đi tìm Nữ thần Mặt trời”. Ca khúc này càng làm sửng sốt đời sống âm nhạc cả nước khi nhìn về Tây Nguyên, đưa Tây Nguyên thoát khỏi vị trí vùng trũng của âm nhạc hiện đại, thoát khỏi tính miền núi, vùng xa. “Bầu trời”, “Mặt trời”, là hiện thân của xã hội văn hóa mẫu hệ của người Tây Nguyên.
Dừng lại bên một ngọn núi thấp cũng đã thảm đầy rẫy cà phê, bạn chỉ tôi ở đấy là nơi bạn hay lang thang và viết ra những giai điệu: “Một mình lang thang trên đất này/ Một mình qua sông, qua núi đồi/ Theo dấu chân cha ông ngàn đời”. Lang thang đã là một trạng thái của nghệ sĩ. Cái lang thang của nghệ sĩ, nhạc sĩ Y Phôn là từ trong hồn cốt của “công dân rừng”, con của rừng. Nó chảy ra từ sự chìm đắm hoang dã; nó lặng, nó động, nó hấp thụ và chuyển hóa rốt ráo. Nó đau khổ tận cùng, và nó vui vẻ quyết liệt. Nên nó mới vang lên giai điệu: “Tôi như con chim lạc bay trên đồi cao/Tôi như dòng sông khao khát lời/Tôi như giọt mưa không có lời”. Bạn phải đủ thương hoặc đủ đau mới viết được những gì thuộc về cái bên trong của một sắc dân, cộng đồng, xứ sở, một cành cây, một con suối, một con thú chăng.
(Trích theo "Y Phôn Ksor-Theo dấu Nữ thần Mặt trời" của Nguyễn Hàng Tình đăng trên báo Gia Lai)

VẺ ĐẸP PHỤ NỮ XỨ THƯỢNG

Từ xa xưa cho đến bây giờ...
VẺ ĐẸP PHỤ NỮ XỨ THƯỢNG
...
Bên cạnh những nhân vật anh hùng, trong sử thi Tây Nguyên còn in đậm hình ảnh các cô gái Bahnar, Jrai, Ê Đê. Vẻ đẹp của họ được miêu tả trong sử thi gắn với thiên nhiên hùng vĩ. Vẻ đẹp ấy gắn với quan niệm thẩm mỹ của con người phương Đông-con người hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ.
Trong sử thi Tây Nguyên, vẻ đẹp của người phụ nữ không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình mà còn hướng ra làng xã, hướng đến lợi ích của cộng đồng. Người phụ nữ ngày ấy, mặc dù không trực tiếp tham gia chiến tranh để phát triển cộng đồng, nhưng họ là những người mẹ, người vợ đã quyết định số phận của người anh hùng, giúp họ làm nên chiến thắng. Đó là vẻ đẹp cao cả của nàng Bara Tang trong Sử thi Xinh Nhã.
Vẻ đẹp của nàng Hơ Nhi trong Sử thi Đăm Săn. Sử thi Tây Nguyên, bên cạnh xây dựng hình tượng thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ, đã xây dựng nên hình tượng con người cộng đồng. Ý thức cộng đồng đã chi phối mạnh mẽ đến ý thức cá nhân anh hùng trong thời đại anh hùng. Họ chính là kết tinh vẻ đẹp của giá trị văn hóa cộng đồng, mang cảm thức văn hóa cộng đồng, bởi “Văn hóa của một dân tộc bao giờ cũng được bắt đầu với một nền văn hóa cộng đồng như vậy”.
Võ Thị Thoa
(Trích đoạn trong bài"Hình tượng con người cá thể trong sử thi Tây Nguyên" của Võ Thị Thoa)

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

NHÀ THỜ QUÂN ĐỘI BAN MÊ THUỘT

Đi tìm không gian đã mất..
NHÀ THỜ QUÂN ĐỘI BAN MÊ THUỘT
Năm 1963, chúng tôi theo ba tôi chuyển sở làm từ Cần Thơ lên Ban Mê Thuột, ở trong Khu Gia Binh Trại Cộng Hòa Sở Hành Chính Tài Chính số 3, nằm phía trước Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23.
Ngày ấy, chúng tôi được xin vào học trường tiểu học Quân Đội Độc Lập ở đây, thì đã thấy ngôi thánh đường này rồi. Chúng tôi nghe gọi là nhà thờ Quân Đội, phía trước có bệ đặt tượng ông thánh Gioan Baotixita, nên cũng có người gọi là nhà thờ thánh Gioan Baotixita. Nhà thờ có hai mái hiên thoáng mát rộng rãi, học sinh đi học sớm hay ra đây chơi đùa... nhất là chơi dích hình hay búng dây thun... Còn hang đá Đức Mẹ cũng đã xây dựng từ lúc nào giáp vào trường học, ngoài trường tiểu học còn có trường trung học Hưng Đức nữa, các chị áo dài trắng hay ra ngồi ở mấy hàng ghế đặt sẵn trước hang đá...
Sau này, thi đậu vào trường Tỉnh, đi học có xa hơn, nhưng vẫn hiện hữu qua lại mỗi ngày, nên ít nhiều ăn sâu vào tâm hồn chúng tôi lúc nào không hay. Con đường đi học từ khắp ngã trong các Khu Gia Binh như chỗ chúng tôi ở đều ra con đường nhìn thẳng vào Cổng Sư Đoàn 23/BB gọi là đường Độc Lập vì khu cư xá dành cho sĩ quan mang tên là khu Độc Lập. Ra đến Quốc Lộ 14, bên phải là nhà thờ tuổi thơ của chúng tôi...
Có năm học tiểu học được cha quản nhiệm nhà thờ Quân Đội là Phêrô Lê Hùng Tâm cho đi cắm trại chung với các đoàn thể khác tận dưới Trung Hòa, được chơi trò chơi lớn "Đi tìm mật thư" ... Sau nghe cha đổi về Giáo xứ Châu Sơn... Cha Huân về...
Thời gian dâu bể trôi qua năm 75... những gia đình ở Khu Gia Binh không còn nữa... và nhà thờ Quân Đội cũng có số phận như thế...
Chỉ tìm thấy trên mạng những hình ảnh xưa, riêng tượng ông thánh Giaon Baotixita được đưa về Giáo xứ Châu Sơn.Gp Ban Mê Thuột.
Phạm Đình Đạt.

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

CHUYỆN CON SỐ 13 XUI XẺO

Lan man theo những thiên tai xảy ra khắp nơi...
CHUYỆN CON SỐ 13 XUI XẺO
Nam kỳ Lục tỉnh là chuyện thời nhà Nguyễn. Khi Pháp cai trị Nam kỳ, họ chia thành 20 tỉnh. Hồi đó không biết ai đã đặt ra một bài nửa giống thơ nửa giống vè để dễ nhớ tên các tỉnh. Bài thơ đó như sau:
Gia Châu Hà Rạch Trà
Sa Bến Long Tân Sóc
Thủ Tây Biên Mỹ Bà
Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc.
Mỗi chữ trong bài thơ là chữ đầu của tên tỉnh. Cụ thể như sau:
1. Gia Định
2. Châu Đốc
3. Hà Tiên
4. Rạch Giá
5. Trà Vinh
6. Sa Đéc;
7. Bến Tre;
8. Long Xuyên;
9. Tân An
10. Sóc Trăng
11. Thủ Dầu Một
12. Tây Ninh
13. Biên Hòa
14. Mỹ Tho
15. Bà Rịa
16. Chợ Lớn
17. Vĩnh Long
18. Gò Công
19. Cần Thơ
20. Bạc Liêu.
Đã là từ 1 tới 20 thì tất nhiên trong đó có con số xui là số 13. Các bạn hãy coi thử tỉnh nào mang số xui 13 vậy?
À, đó chính là Biên Hòa!
Xung quanh con số 13 của Biên Hòa này có 2 chuyện ngộ ngộ.
Chuyện thứ nhất là trong lễ tống phong - còn gọi là tống ôn - tức là lễ tống ba cái thứ ôn dịch, tà ma quỷ quái ra khỏi làng được tổ chức ở đền thờ Đoàn văn Cự (Tam Hiệp) vào ngày mồng 4 và 5 tháng 5 âm lịch hàng năm. Tại lễ này, người ta làm một chiếc thuyền nan bằng giấy, trên đó có lễ vật, mang ra sông Đồng Nai và cử hành nghi thức tống nó đi cho trôi tuốt về hạ nguồn sông, coi như tống ôn dịch. Điều đáng nói là trên mũi thuyền có vẽ số 13! Các bô lão giải thích rằng 13 chính là số thứ tự của Biên Hòa trong bài thơ trên!
Chuyện thứ hai là vầy. Hồi đó người Pháp tính xây dựng một nhà thương điên ở Nam kỳ nhưng hổng nơi nào chịu xây ở tỉnh mình hết, vì... sợ xui. Người ta bèn chọn bằng cách coi trong bài thơ trên thằng nào mang số 13 tức là nó xui sẵn rồi, ịn cho nó thêm cái Nhà thương điên cũng hổng xui hơn bao nhiêu. Kết quả là ta có Nhà thương điên Biên Hòa. Chuyện này chắc bịa, nhưng mà vui!
PHAM HOÀI NHÂN
(Trích bài viết "Nam kỳ... hai chục tỉnh" của Phạm Hoài Nhân đăng trênhttp://tachcaphe.com/nam-ky-hai-chuc-tinh/)

CHÈ LỤC TÀU XÁ

Nhớ món chè đậu xanh trên các xe đẩy người Hoa ngày xưa...
CHÈ LỤC TÀU XÁ
Tàu xá là tên gọi theo tiếng Quảng Đông (Trung Quốc), nhưng truy nguyên gốc tên gọi đầy đủ của nó là ” lục tàu xá” (lục đậu sa) nghĩa là đậu xanh nát nhuyễn. Nguyên liệu để nấu tàu xá là đậu xanh, bột báng, trần bì (vỏ quýt khô) và đường cát. Cách nấu ” lục tàu xá” thật là đơn giản.
Đậu xanh tróc vỏ, nấu thật nhừ (nát), bột báng được luộc sơ để bớt đi chất nhớt rồi cho vào nấu cùng với đậu xanh. Khi đậu xanh, bột báng đã chín thì đổ đường cát vào khuấy đều cho đường khỏi bị sít (đường bám vào thành nồi và cháy khét). Trần bì được rửa sạch bằng nước sôi rồi cho vào sau chót.
Tiếp tục nấu chừng vài phút thì chín. Tàu xá chín có dạng đặc, màu ngả vàng (màu của đậu xanh), điểm lên những hạt màu trắng li ti (bột báng) cộng thêm mấy lát trần bì trông thật lạ mắt. Trần bì có ” vai trò rất quan trọng” trong nồi tàu xá, bới nếu thiếu nó thì tàu xá chẳng khác gì các loại chè đậu xanh hay chè bột báng thông thường. Lục tàu xá có mùi thơm lạ, khi chính miệng nếm thử mới cảm hết được hương vị độc đáo của nó.
Cái ngọt của đường cát, vị béo của đậu xanh cộng với vị the của trần bì, ăn vào khói khẩu lạ thường. Tàu xá không chỉ là món ăn ngon mà còn có tác dụng như một ” bài thuốc bổ” , bởi bản thân các nguyên liệu dùng để nấu Tàu xá đều có mang vị thuốc. Đậu xanh: tính mát, giải độc, giải nhiệt, cảm sốt và có tác dụng trừ ô cấu (trừ chất bẩn trong cơ thể); trần bì: có vị đắng the, giúp tiêu thực, thanh đờm, thanh phế quản.
Đó chính là nét độc đáo của món ăn này. Chính vì lục tàu xá là một món ăn vừa ngon, vừa bổ, vừa có hương vị độc đáo riêng, mà nó đã thành món ăn quen thuộc, ưa thích của phần đông cư dân...
...
Mấy năm gần đây, chè lục tàu xá được nhiều thực khách phương xa đến Hội An rất yêu thích. Trong tiết trời se se lạnh, ngồi bệt bên góc phố nhỏ, gọi cho mình một chén lục tàu xá nóng hổi vừa thổi vừa ăn và lặng ngắm những dòng người qua lại trên thì còn gì thú bằng...
Phan Thị Thanh Ly
(Trích theo bài "Đặc sản xứ Quảng : Chè lục tàu xá" của Phan Thị Thanh Ly đăng trên http://vanghe.blogspot.com/)

NHỚ BẾP QUÊ XƯA

Nào ai xa ngàn nơi... Kìa bao mái nhà đang chờ ai
Kìa bao bếp hồng đang còn tươi... Thương nhớ lên đầy vơi...
(Về Dưới Mái Nhà)*https://www.youtube.com/watch?v=FHlBq8dpc3A
NHỚ BẾP QUÊ XƯA
Trong xã hội phát triển không ngừng như vũ bão ngày nay, còn mấy ai nhớ đến một miền quê nghèo đã nuôi ta khôn lớn. Cái làng quê ấy nó có thể còn nhiều thiếu thốn về vật chất, nhưng nó giàu tình người “tối lửa tắt đèn” luôn có nhau. Một mái tranh xiêu nhưng quanh năm đầy ắp tiếng cười, một hàng dậu thưa nhưng bình yên khuya sớm, một cánh cổng giong nhưng rộng mở tình đời.
Mái bếp nghèo của quê nhà, nơi có ngoại tôi mỗi buổi chiều cặm cụi nhóm bếp. Ngày thơ dại tôi vẫn thường ngồi giụi đầu vào bên bà, nhìn ngọn lửa từ than rơm cháy đượm ấm nồng, nghe nồi cơm bằng đất reo sôi lúc búc trong cháy bếp mà bụng thấy cồn cào. Cuộc sống hiện đại cộng thêm sự bộn bề công việc nên người ta nấu cơm bằng nồi điện, mất dần cái hương vị ngày xưa của nồi cơm bếp củi nơi mái tranh nghèo quê cũ. Mái bếp nghèo quê nhà trong những chiều đông, cả khuôn mặt đỏ hồng vì lửa rơm, có cả những giọt nước mắt cay vì khói bếp của bà, của mẹ, của dì mà đã bao năm trôi qua tôi vẫn nhớ.
Nhớ khi xưa còn bé, tôi vẫn thường chui vào ụ rơm vàng mùa gặt mới trong bếp, như chú cún con rồi ngồi bện rơm thành những cuộn vô hình thù. Khói rơm vàng làm cay mắt mẹ trong những chiều đốt nắng. Nhìn dáng Ngoại lưng còng nhóm lửa, những chiếc đũa bếp gắp củ khoai cuối mùa nhỏ quắt queo giữa đống than cời, tự nhiên thấy nhớ tha thiết hương vị quê nhà sắn khoai nghèo khó. Lâu rồi tôi không được nếm thử miếng khoai lang nướng vùi trong đống tro rơm, nhưng tôi chưa bao giờ quên mất vị béo bùi hương đồng nội.
Không gì đẹp bằng những buổi chiều mùa hè khi mặt trời chưa tắt, bóng khói lam chiều, tỏa ra từ những mái tranh nghèo. Giữa bầu không gian tịch mịch, khói bếp như là hình ảnh sinh động duy nhất giữa những tạo vật mờ ảo xung quanh. Ngọn khói mỏng có lúc loe lét như một ánh lửa nhỏ, bò dọc theo lưng mái tranh đẫm sương chiều, rồi gặp gió bung ra lãng đãng thành một vùng lớn lam nhẹ lơ lửng trên trời cao. Ký ức tuổi thơ tôi khó có thể quên hình ảnh đẹp như một bức họa ấy.
Mỗi lần chợt bắt gặp mái bếp đang tỏa khói trên đồng quê, vẫn không khỏi bâng khuâng trong nỗi nhớ. Hình như cứ lúc nào gặp lại hình ảnh thân thương ấy, tôi lại thấy bóng dáng quê nhà, nghèo khó nhưng ấm nồng, chan chứa yêu thương. Lại ước ao được một lần chui vào chái bếp, nghe một chút nóng ấm của lửa rơm, một chút thơm bùi của củ khoai nướng vội, một chút lấm lem mặt lọ như những ngày thơ bé đã quá xa xưa.
Có lẽ sau này chúng ta sẽ khó tìm đâu được bóng dáng của một chiếc cổng giong, một hàng giậu thưa hay một mái tranh quê, chái bếp nghèo nhuốm màu mưa nắng. Và cái mùi khói đốt đồng, mùi khen khét của những củ lang nướng tan dần trong miền ký ức.
“Không ai chọn được nơi sinh
Dù nghèo khó, vẫn trọn tình với quê”
Diệu Hiền
(Trích theo bài QUÊ NGHÈO của Diệu Hiền đăng trênhttp://vienchuyentu.com/que-ngheo/)

Thứ Tư, 11 tháng 10, 2017

BÌM BỊP TIẾNG KÊU THƯƠNG *Trần Bảo Định

“ Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê ” (ca dao).
BÌM BỊP TIẾNG KÊU THƯƠNG
*Trần Bảo Định
...
...
Tôi nhớ tiếng kêu thương của bìm bịp vì, nó chẳng vô tình bạc nghĩa xứ sở. Nó hoàn toàn đối nghịch với chim cu đất. Bởi, chim cu đất sẵn sàng bỏ ổ, bỏ con, bỏ lãnh địa, một khi nó ngửi mùi bất an đến bản thân!
Hồi nhỏ được ngoại nuông chìu, tôi thường nghịch phá nhất là rình chim bìm bịp tìm ổ để lấy trứng bắt con. Thiệt ra không dễ, bìm bịp tha mồi nuôi con không bao giờ bay thẳng đến ổ. Nó bay lủi vô bụi cây ngụy trang phía trước và nó lặng lẽ bay ngõ sau bụi cây nhằm đánh lừa đối phương. Đôi ba chập bay lủi như vậy, bìm bịp mới về ổ nuôi con.
Bìm bịp màu lông giống nhau ở trống và mái. Màu nâu chấm đen khi còn nhỏ. Lúc đủ lông đủ cánh, rời ổ ra riêng, đôi mắt đỏ au; đầu mỏ, cổ ngực và đuôi có màu đen lợt, thân và đôi cánh lông màu nâu sòng như chiếc áo nhà sư. Có lẽ vì vậy, người đời gọi bìm bịp là chim Thầy Chùa (?). Hình như có một sự tích về màu lông, về thân phận của nó do thiên hạ truyền miệng nhau. Tôi nhớ hoài lời ngoại nói:
- Bìm bịp, một loài chim cam chịu sống bìm, đồng nghĩa với bầm mà, bầm ở quê mình được hiểu ngầm là bầm dập! Dù vậy, nhưng chưa bịp ai, kể cả người bạn đời của nó!
Rồi những trưa hè buồn miệng, ngoại kiến giải:
- Người nhà quê hiểu nôm na, bìm có nghĩa sống “ăn nhờ ở đậu” an phận thủ thường, nhút nhát và không ác với đồng loại, không nham hiểm với láng giềng. Trời cho đôi cánh để bay xa, bay vào trời rộng như muôn loài chim khác, nó ngại ngùng quên sử dụng. Chỉ là, bay ngắn nếu không muốn nói, chuyền cây. Suốt đời sống bụi bờ, làm ổ bằng rơm cỏ trên cao và hỏng mặt đất. Đi đâu cũng có đôi có bạn, không đi lẻ vợ chồng. Nước lớn vợ gọi, chồng kêu!
Con mái lớn hơn trống, đuôi ngắn và lông màu lợt; trống đuôi dài và lông màu đậm. Bàn chân bốn ngón, mỗi ngón có móng và vuốt. Chân cặp ngắn cặp dài và trước sau đối xứng. Dẫu nó thuộc loại bìm bịp lớn hay nhỏ, thảy đều sống thủy chung với bạn tình mà nó đã ăn nằm, sinh con đẻ cái. Mỗi con trống hoặc mái, nó có riêng mùi đặc trưng. Và, mùi đặc trưng đó, giúp nó nhớ thương, ân ái, không phản bội nhau. Mùa xuân, dù bìm bịp sống chốn gò cao hay nơi bưng biền, mương rạch, nó rững mỡ qua tiếng kêu ‘Cu-ra-ua... Cua- ra-ua... vang vọng miền quê, ai nghe mà chẳng động lòng? Đầu hạ, bìm bịp đẻ. Đầu thu, cả vợ lẫn chồng cùng gánh vác việc nuôi con, nó chẳng ly thân ly dị bao giờ. Mái nhường miếng mồi ngon cho chồng cho con, nó nhịn ăn trong niềm vui của sự nhường. Tôi đã rình coi bữa ăn chiều sum hợp của “gia đình bìm bịp” ở đám biền thí thời bom đạn. Tôi nhớ mẹ, nhớ nhà và thèm về, ngay bây giờ nhưng, không thể. Bất chợt, tôi thốt lên câu hò ở quê nhà:
Phần thịt thì để cho chồng
Phần xương em gặm, phần lòng cho con
Nhà ngoại có khu vườn chạy ra bến sông, có cầu ao nằm dưới giàn mướp hoa vàng rực mỗi sớm mai. Chốn ấy là, giang sơn của bìm bịp. Nó yêu giang sơn của nó chẳng khác người yêu đất nước của mình. Mảnh đất nó đang sống là lãnh địa bất khả xâm phạm. Nó trở nên hung tợn và chiến đấu bảo vệ lãnh địa không sợ chết đối với kẻ xâm lấn.
Ngày xưa, ngoại nói đó là tập tính thuộc căn tính bìm bịp; đồng thời với phản xạ có điều kiện. Tôi hỏi, điều kiện gì hở ngoại? Ngoại rằng, sau mỗi lần đánh đuổi và chiến thắng kẻ thù, nó thích khen thưởng bằng thức ăn ngon. Vì vậy, con mái lúc nào cũng trữ mồi ngon tặng trống sau trận chiến.
Bìm bịp khắc tinh lũ rắn, kể cả rắn cực độc. Lãnh địa của bìm bịp, rắn không thể sống, kể cả sống sót! Mùi da thịt, mùi lông và phân của bìm bịp khiến rắn khớp đèn, mất hoàn toàn khả năng chiến đấu... thúc thủ quy hàng, nằm chờ bìm bịp đến gắp mang về ổ làm thức ăn dự trữ nuôi con!
Con tạo lá lay, bày trò: Bìm bịp diệt rắn. Rắn diệt chuột. Thế nên, chuột ngày đêm ngóng đợi bìm bịp lởn vởn gần hang ổ của mình như nắng hạn đợi mưa rào. Có mùi bìm bịp, rắn cụp đuôi không dám ho he, hó hé! Rắn sinh ra và lớn lên lột da sống đời nhưng, không có hang ổ! Hang ổ rắn, chính là hang ổ chuột bị rắn cưỡng chiếm với phương châm: Diệt chuột đoạt hang ổ!
Tôi trở về khu vườn nhà ngoại sau bao năm đi xa. Những đóa mai vàng bung nụ khoe cánh dưới nắng xuân, không gian im ắng như chờ tiếng gọi bạn tình: Cu-ra-ua... C...u...r...a...u...a.. của bìm bịp tự thuở nào. Tôi chỉ nghe tiếng lá rơi trên thềm nhà cũ. Cầu ao, bến nước, bãi biền... còn nằm trơ đó, bìm bịp thì “tuyệt chủng” rồi!
Chỉ một lời đồn thổi bá vơ, người săn đuổi và tận tuyệt giống nòi bìm bịp, ngâm rượu tráng dương bổ thận cho mình. Họ biết đâu rằng, chính họ đã giết chết tiếng kêu thương của một loài chim đáng sống!
TRẦN BẢO ĐỊNH
(Trích từ nguồn http://www.tapchisonghuong.com.vn/)

Xứ Thượng... BUÔN LÀNG Ê ĐÊ

Xứ Thượng...
BUÔN LÀNG Ê ĐÊ
Buôn làng là hình thức xã hội cao nhất của xã hội Ê Đê cổ truyền, đôi khi vì mục đích hoặc quyền lợi nào đó giữa các làng thì cũng sẽ liên minh, nhưng chỉ là tạm thời.
Buôn làng của người Ê Đê thường được dựng ở gần sông suối để tiện khai thác nguồn nước. Nhìn từ xa buôn làng họ giống như lưng con rùa. Các ngôi nhà sàn được xây dựng gần nhau để mọi người dễ hỗ trợ nhau khi có thú dữ hay kẻ thù tấn công.
Các buôn làng Ê Đê xưa ở cách xa nhau, gần cũng phải đi bộ mất nửa buổi, có buôn xa phải đi hết cả ngày đường. Người ở các buôn khác nhau, thường xuyên qua lại thăm nhau để uống rượu cần, dự lễ cưới, đám tang, bỏ mả, v.v. Nhìn chung, các buôn làng Ê Đê sống thân thiện, hoà hợp với nhau.
Trong buôn làng Ê Đê gồm các thành phần người như sau:
– Pô lăn là người đàn bà đại diện cho việc quản lý đất đai của dòng họ, buôn làng. Tuy nhiên, đó chỉ là hình thức. Thực chất chồng của người đàn bà ấy mới là người hành sự công việc. Pô lăn “hành sự” thường kiêm pô pin êa (chủ bến nước). Thực chất ông ta là chủ buôn làng.
Pô pin êa hướng dẫn dân làng thực hiện các nghi lễ chung của cộng đồng (cúng bến nước, cúng thần đất, dời buôn làng, v.v…), giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ buôn làng cũng như với các buôn làng khác. Bên cạnh chủ làng còn có một số già làng (khua knơng buôn) giúp việc quản lý đất đai, trông coi bến nước.
Chủ làng không phải do dân làng bầu ra, ai “thông thạo việc thần, thành thạo việc buôn”, gia đình giàu có thì được cộng đồng tôn sùng, công nhận. Nối nghiệp chủ làng là người chồng nào tài giỏi nhất trong số những người chồng của các con gái ông ta.
– Pô phat kdi (thầy xử kiện) lo việc hoà giải các mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong buôn làng. Thầy xử kiện căn cứ vào các điều trong klei bhiăn (tập quán pháp) đó định tội lỗi đối với những ai vi phạm tập tục.
– Pô riu yang (thầy cúng) là người thực hiện nghi lễ trong các lễ cúng. Cùng với thầy cúng, thầy bói (mjâo) là người đi đầu tinh thần của người Êđê, giúp họ giải toả ức chế khi ốm đau, hạn hán, mất mùa.
Còn lại là dân làng. Trong số đông này, có hai loại người cần được chú ý, đã là “dăm” và “hlùn”. “Dăm” là từ chung chỉ chàng trai khoẻ mạnh, tài giỏi, dũng cảm. Trong buôn làng có việc gì khó khăn (săn bắn thú dữ, đánh nhau với bên ngoài) là “dăm” trực tiếp tham gia. Từ “dăm” này được gắn với một tên người cụ thể. Chẳng hạn Dăm Kô, Dăm Wơn, Dăm Săn, v.v. Còn “hlùn” là người (bản thân hoặc gia đình) phạm điều gì tập quán pháp quy định mà không đền bù được bằng của cải thì phải đi ở cho nhà giàu.
Cư dân sống trong một làng Ê Đê được gọi là mnuih buôn sang, ở đó có những tục lệ bắt buộc người ta phải tuân theo. Bất kỳ ai không tuân thủ đều bị coi là vi phạm tập quán pháp.
...
(Trích trong bài ỨNG XỬ VĂN HÓA TRONG XÃ HỘI Ê ĐÊ, GIA RAI của TS. Đỗ Hồng Kỳ đăng trên http://bacvietluat.vn/)

Xứ Thượng... CON GÁI Ê ĐÊ

Xứ Thượng...
CON GÁI Ê ĐÊ
Cô giáo Êđê - nhà văn Niê Thanh Mai ... viết văn xuôi là chính, nhưng bất chợt cũng có làm thơ...
EM ƠI !
Gấu váy em dính đầy cỏ may
Quì gối xuống
Anh nhặt cho
Kẻo đâm vào bắp chân ngăm ngăm màu đất.
Cổ tay em
Dính nhựa cây rừng
Lại đây anh kéo vạt áo đỏ chói trước ngực
Lau cho
khỏi đen, khỏi ám.
Vồng ngực em
Nhô căng sau thổ cẩm dầy như tấm chăn em đắp
Ướt đầm
Mồ hôi ngọt mặn của bước chân lội suối trèo đồi.
….
Bắt anh về nhà em đi!
Về anh gỡ hoa may gấu váy
Chùi nhựa cây rừng
Hít sâu lồng ngực con gái
Sâu rối lòng rối dạ.
Chúng mình sẽ đẻ con
Gái lại dính hoa may gấu váy
Trai lượn lờ đòi chùi nhựa cổ tay…
Niê Thanh Mai
*
THƠ VIẾT Ở AJUN HẠ
Ơ em!
Đêm nay trăng sáng
Mình dắt nhau ra lán tre
Bốn bề mênh mông
Ta tìm nhau như chim rừng tìm bạn kết đôi.
Ơ em!
Đêm nay thú không đi hoang
Cá dưới hồ thôi quẫy đạp
Uốn éo tìm bạn tình thủ thỉ
Hai ta chỉ còn một
À…
Trời mênh mông gió
lán bần bật run.
Ơ em!
Ta thương em!
Thương những đêm trăng ngoài lán của mình.
Niê Thanh Mai

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

NỮ TIỂU HỌC NGUYỄN CÔNG TRỨ BANMÊTHUỘT *YBinh Mlo

Quê hương tuổi thơ đi qua đời tôi...
NỮ TIỂU HỌC NGUYỄN CÔNG TRỨ BANMÊTHUỘT
*YBinh Mlo
...
Mình học ở trường Nguyễn Công Trứ 3 năm đầu cấp 1. Ở đây, buổi sáng dành cho học sinh nam, buổi chiều là học sinh nữ, nhưng lúc đó tên trường là “Trường Nữ Tiểu học I”. Bây giờ, nhiều khi đi qua đây, mình như nhìn thấy lại hình ảnh giờ tan trường ngày ấy: hai hàng học sinh đứng hai đầu đường, ra hiệu cho các loại xe đang lưu thông phải tạm dừng, ưu tiên cho học sinh, tất cả các xe cộ đều nhường bước... Một nét văn hoá dễ thương.
Không hẳn là thời ấy học trò ngoan quá, nhưng chắc chắn là các cô giáo Trường Nữ Tiểu học I rất mẫu mực, được yêu kính nên học trò luôn biết vâng lời các cô. Trong ký ức mình, hình ảnh cô Hiệu trưởng và các cô giáo khác hoà vào nhau thành một hình ảnh chung duy nhất là Cô giáo, vừa nghiêm, vừa hiền lại giỏi nữa. Mình không nhớ được hình ảnh riêng của cô giáo nào, không nhớ lần nào cô rầy ai việc gì, có lẽ vì không có chuyện đó để mà nhớ.
Trường mình là trường có tiếng ở Ban mê nhưng cũng chỉ có mấy căn nhà trệt, xếp thành hình chữ U, đơn sơ thân thiện. Góc sân bên phải- phía đường Quang Trung- có một cây Đa thật to, tán lá rộng phủ mát cả một vùng sân trường. Giờ ra chơi hầu hết học sinh đều kéo về phía gốc Đa, chạy nhảy, nô đùa, nào là nhảy dây quay, dây căng, lò cò, trồng nụ trồng hoa, vừa chạy vừa “u u” …Cũng có nhiều bạn không chơi môn gì, chỉ đứng xem mọi người chơi không chán mắt. Cây Đa che mát ban ngày nhưng khi đêm về thì…tiếng lá xạc xào trong bóng tối nghe rất âm u, dám chắc người lớn cũng phải sợ khi đi ngang qua gốc Đa già ấy.
...
Ngôi trường Nguyễn Công Trứ đến năm 1978 thì không còn nữa. Người ta dời bến xe lam từ cuối đường Tôn Thất Thuyết về sau lưng trường, (ở đường Nguyễn Thái Học ) và toàn bộ diện tích của Trường trở thành khu chợ khang trang. Cây Đa sân trường thì còn được lưu giữ vài năm sau đó nhưng rồi cũng bị hủy đi để tránh tai nạn do cành cây rơi gãy nơi đông người.
...
Bây giờ, cây Đa to chỉ còn thấy mờ mờ trên cung trăng những đêm trăng tỏ, ngôi trường xưa chỉ còn trong ký ức – đó là Bảo tàng trong tôi, nơi ấy“bể dâu” không thể nào động tới …
(Trích trong "Có một nhà bảo tàng trong tôi" của YBinh Mlo đăng trênhttp://www.trunghocbmt68-75.com/)