Giới thiệu bản thân

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2018

NHỮNG THÁNG NGÀY ÊM ÁI TUỔI THƠ *Vương Hữu Thái

Vang trong nỗi niềm nhung nhớ
Có ai đi thương về trường xưa?
NHỮNG THÁNG NGÀY ÊM ÁI TUỔI THƠ
*Vương Hữu Thái
Trong ký ức của tôi vẫn còn lưu dấu, dầu có một phần nhạt nhòa nào đó những ngày tháng tươi đẹp nhất một đời người, mà qua chuỗi thời gian dài đằng đẵng thấm thoát bấm đốt ngón tay cũng đã tròm trèm nửa thế kỷ thật sự xa rời, thật sự không còn bên mình. Như một giấc mơ tưởng chừng dài lắm, thế mà hóa ra lại ngắn ngủi đến không ngờ…Cũng kể từ ngày xa rời mái trường LaSan lưu dấu ấy, các Frère ấy, thầy cô và bạn bè ấy…sau những lúc nhọc nhằn, khắc khoải trong cuộc mưu sinh, bề bộn những lo toan tính toán tôi cũng dành lại giờ phút nhìn lại đời mình, trong đó hình ảnh thời tuổi thơ ngộ nghĩnh, chan hòa những yêu thương luôn ngự trị và thổn thức trong trái tim tôi. Qua cuộc hành trình không thể quên điểm xuất phát, cũng từ đấy bao giờ cũng là sự chộn rộn, náo nức, hy vọng. Với tôi điểm khơi nguồn hành trình tuổi thơ được xem như phút khai tâm đầu đời và nó luôn dẫn dắt tôi qua khoảnh khắc êm ả, trong veo như dòng suối.
Mái trường đầu tiên thời thơ ấu của tôi là Trường Tiểu Học LaSan Lam Sơn Ban Mê Thuột, tọa lạc trên mảnh đất rộng rãi mặt trước nhìn xa thấy thấp thoáng dãy nhà dài của các Soeur Dòng Bác Ái Vinh Sơn [1] bên hông phải là đường Cường Để (nay là đường Nguyễn Văn Trỗi) ,phía trước mặt trường là đường hẻm Hàm Nghi với mặt cắt ngang là đường Võ Tánh chạy dài đến vùng Châu Sơn, cánh hông trái trường là khu đất rừng hoang vu dốc lượn đến con suối Bà Hoàng, được ngăn cách bởi hàng rào kẽm gai ngăn không cho học sinh vượt qua, nên nhiều trái bóng tròn của lũ học trò nếu vô ý đã rơi xuống khu này khó tìm lại. Quang cảnh thập niên 60 ấy còn sơ khai đến nỗi tôi nhìn thấy từ xa từng đám Bằng Lăng cổ thụ cao sừng sững và trập trùng dãy núi xanh hiện lên tầm mắt, ngay trong sân trường có hàng phượng vỹ gốc lớn xum xuê, thường nở hoa đỏ rực mỗi độ hè đến và là nơi lũ trẻ hay tụ tập giờ ra chơi
Lúc đặt chân vào lớp Mẫu Giáo thì tôi nghe Bố nói đó là ngày “Khai Tâm” tức là đánh dấu ngày đầu tiên cắp sách đến trường để thầy cô dạy viết nét chữ đầu, soi rọi trí khôn mở đầu cho tương lai và cái tên gọi như thế trở nên quen thuộc với nhiều gia đình trong vùng. Bố tôi kể rằng sở dĩ chọn trường LaSan dầu trước đó tôi được chấp thuận vào một trường công lập cách nhà một cây số, vì nhà tôi có truyền thống đạo Công Giáo trước hồi di cư nên Bố Mẹ muốn tôi hấp thụ nền giáo dục KiTô ngay từ thưở ấu thời, mà cách tốt nhất là trao phó cho các Frère . Khi đó uy tín cùa Dòng LaSan đã được nhiều người trong vùng biết đến, kể cả người ngọai đạo.
Lần theo lịch sử , khu trường LaSan đầu tiên được tọa lạc trên mảnh đất của nhà thờ Thánh Tâm giữa trung tâm thị xã, kể từ khi 4 Frère đầu tiên đặt chân đến Ban mê thuột năm 1959,và niên khóa LaSan 1959-1960 khai giảng cấp bách ngay sau thời gian ngắn chuẩn bị. Chỉ vài năm sau các dãy nhà không đủ chỗ vì số học sinh theo học ngày càng tăng nhanh [2] nên từ tháng 06/1963 LaSan Ban Mê Thuột được tách thành 2 trường: Tiểu Học LaSan Lam Sơn và Trung Học LaSan Đồi [3]( hay còn gọi là LaSan Kbuôn)
Địa điểm LaSan Lam Sơn trước đây là một xưởng sủa chữa Cô Nhi Viện Térésa của các soeur được Đức Cha Paul –Seitz [4] trao lại cho các Frère Dòng LaSan lập trường học vì nhu cầu giáo dục trong vùng đang gia tăng mạnh mẽ. Còn LaSan Đồi được xây trên mảnh đất rộng hơn 60 hécta cách thị xã 3 km về hướng nam trên quốc lộ 14 giữa buôn Ale A và Ale B.
Theo lời anh tôi (cũng học LaSan từ nhỏ đến Tú Tài II) kể lại thì ngày “ Khai Tâm” vô cùng trọng đại vì cha hoặc mẹ, nếu quá bận bịu phải cử anh chị lớn đến tham dự ngày khai giảng bắt đầu lúc 8 giờ sáng tại khuôn viên nhà trường, thường thường ít phụ huynh vắng mặt và dẫn con đến sớm để làm quen với không khí nhà trường. Sau tiếng trống tùng tùng vang dội thì Frère Giám Học và các thầy cô hướng dẫn học sinh sắp hàng ngay ngắn thứ tự (trước đó đã có danh sách các lớp dán trên bảng đen trước văn phòng), đặc biệt lớp Mẫu Giáo thường khá vất vả nên phụ huynh phải túc trực ngay phía sau để tạo sự an tâm cho các em nhỏ , nhiều đứa đã khóc lóc vì bỡ ngỡ và Frère hay thầy cô sẽ đến dỗ dành, khuyên nhủ…cũng có thể vì cái “uy” của chiếc áo chùng đen và mảng trắng ở cổ Frère mà nhiều em đã nín thinh , phần tôi tuy có bỡ ngỡ nhưng không đến nỗi khóc lóc, và theo anh tôi kể thì tôi vinh hạnh được Frère Hiệu trưởng đến xoa đầu…
Sau khi chào cờ thì Frère Hiệu Trưởng có lời khái quát về việc học hành, kế tiếp cả trường đọc kinh Lạy Cha, Kính mừng, Sáng Danh như để nhắc nhở mọi người dâng lên Thiên Chúa tâm tình năm học mới. Frère Giám Học hướng dẫn các em trật tự vào lớp với thầy cô giáo đi kèm.Buổi đầu tiên chỉ để làm quen với trường lớp và vui chơi,cho đến khi tiếng trống tan học vang rền, người nhà đón con em mình về thì các Frère mới an tâm…Thế mới biết nỗi vất vả của cha mẹ, rồi các Frère trong ngày khai giảng biết diễn tả thế nào cho hết, gia đình tôi cũng tỏ vẻ an tâm trước sự lo lắng của các Frère và tôi sống trong những ngày đầu êm ả đó dưới mái gia đình và nhà trường.
Hồi ấy nhà tôi nằm ngay đầu đường Hàm Nghi (nay là đường Trần Phú), nên tôi chỉ đi bộ đến trường mất mươi phút, tôi quên không kể khu Lam sơn là khu đông đảo người lao động làm đủ mọi ngành nghề như buôn thúng bán bưng, làm thợ, làm nông…đa phần là bình dân. Lũ trẻ như tôi thường rủ nhau đi học sớm để còn la cà vui chơi, ngặt nỗi con đường đến trường là đường đất nên mùa nắng thì bụi bẩn mà mùa mưa thì mặt đường sình lầy những vũng nước do mấy chiếc xe “be” chở gỗ đi ngang, tụi trẻ phải đi nép hai bên mé đường nếu sơ ý hay nghịch ngợm rất dễ bị vấy bẩn bùn đất nhão nhẹt lên bộ đồng phục . Hồi ấy từ lớp Nhất đến lớp Ba [5] phải học ngày hai buổi, riêng năm lớp Ba có thêm môn Pháp Văn nhưng từ năm lớp Tư lại bãi bỏ môn này và chuyển sang học Anh Văn cũng như chương trình đổi lại học chỉ có một buổi sáng. Tôi nhớ cổng trường là nơi các chiếc xe đạp bán dạo đủ thứ hàng quà như kẹo kéo có quay số, bánh bò, cà rem…rồi các bà bán bánh mì, xôi…thường tụ tập bán cho học sinh, sau đó trong nhà trường cũng tổ chức một quầy bán hàng ăn sẵn vì ở ngoài thường mất vệ sinh. Tôi vẫn nhớ nhiều buổi sớm Mẹ tôi phải lục đục chiên cơm hoặc hâm nóng cơm nguội bằng củi cho chúng tôi lót dạ đi học, một phần để tiết kiệm quà sáng, trong lúc chúng tôi cố nuốt phần ăn nhiều khi thấy ngán ngẩm thì cùng lúc đó Bố tôi lại lặng lẽ dắt chiếc xe đạp lủi thủi đến công sở như thường lệ…
Năm học lớp Nhì tôi được các Frère dạy lớp Giáo Lý để sau đó chịu phép Rước Lễ Lần Đầu do một Linh Mục đến trường dâng thánh lễ. Gần kỳ hè 1967 tôi lại lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức cũng do các Frère dạy Giáo Lý. Ngày đó khá đông học sinh LaSan Lam sơn tụ tập về nhà thờ Thánh Tâm cùng với các nhóm giáo lý khác để dự thánh lễ do Đức Cha Paul- Seitz( thường gọi là Đức cha Kim) ban phép trong buổi lễ trọng đại nhất cuộc đời thời thơ ấu của tôi, cho đến nay tôi không thể quên đã có 100 em sau nghi thức chịu phép đã được hôn nhẫn Đức Cha, một nghĩa cử cao đẹp thể hiện sự ưu ái của vị Cha chung với những người con bé dại. Chính ánh mắt nhân từ,nụ cười khả ái của Đức Cha cũng để lại ấn tượng không hề phôi phai về vị mục tử hết lòng lo cho đoàn chiên, ngoài mục vụ Đức Cha luôn quan tâm đến các nhu cầu bác ái xã hội, trong đó có giáo dục với biết bao khó khăn gian nan trải dài trên vùng đất rộng lớn xa xôi cách trở… đây là thánh lễ Thêm Sức cuối cùng của Đức Cha Kim tại Ban Mê Thuột.Tôi cũng luôn nhớ đến Cha GiuSe Trịnh Chính Trực, lúc đó là Chính Xứ nhà thờ Thánh Tâm tại thị xã [6] và trước đó là Cha GB.Trần Thanh Ngoạn đã quan tâm gầy dựng buổi đầu sơ khai cho sự có mặt của Dòng LaSan tại vùng đất cao nguyên . Tôi cũng mãi nhớ đến hình ảnh Frère Hiệu trưởng Salomon Minh (Lê Văn Hộ) đã luôn lo gìn giữ mặt đạo đức cho chúng tôi và thánh lễ hôm đó luôn có Frère bên cạnh như muốn nói lên tình nghĩa của vị sư huynh với thế hệ học trò, và nhờ thế mà hình ảnh của Frère đã theo chúng tôi đến hết cuộc đời, mãi mãi không bao giờ quên.
Lúc đó tôi cũng có nhiều kỷ niệm với một bạn thân cùng lớp là Ngô Hằng Tiến,được gọi là Tiến mập vì nó to con mập mạp híp cả mắt, nhà ở đầu đường Y Jut gần ngôi đền miếu thường tổ chức “lên đồng”, nên nó thường rủ tôi đến xem. Tôi còn nhớ hình ảnh người đồng cốt nhảy múa theo tiếng đờn cò kéo ò e rồi tiếng phèng phèng với khói nhang nghi ngút, nhưng tôi cũng không thích nghi lâu dài với hình ảnh này…nó giỏi Toán và thường hướng dẫn tôi những bài khó,nhưng niên khóa sau nó phải theo gia đình đi tỉnh khác…
Cũng trong năm 1967 đó, một sự kiện quan trọng khác đã đến trên vùng đất cao nguyên hùng vỹ, năm đó tôi học lớp Ba. Đó là ngày 22/08/1967 dưới sự dẫn dắt của Frère Hiệu trưởng,các học sinh LaSan đã tụ tập đến nhà thờ Thánh Tâm [7] để chào đón vị Giám mục tiên khởi của Giáo phận Ban Mê Thuột, được tách ra từ Giáo phận KonTum, đó là Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Mai. Trước đó hai tháng trời tin vui này đã lan tỏa khắp các nơi trong tỉnh vì trước quyết định của Tòa Thánh Vatican, kể từ nay tân Giáo phận sẽ có bước phát triển mới trên con đường mục vụ, bởi số giáo dân đang gia tăng mạnh mẽ và việc truyền giáo trở nên cấp bách,trong đó có đồng bào dân tộc và các trường công giáo bước vào thời kỳ phát triển mới… Các Frère cũng có những chuẩn bị tinh thần để đón nhận sự kiện trọng đại này như giải thích cho học sinh biết thế nào là chức vụ Giám Mục, Giáo phận là gì ?...để chúng tôi không ngỡ ngàng và cùng hòa nhịp vui mừng chung với mọi người. Hôm đó chúng tôi mặc đồng phục xếp hàng theo sự sắp xếp của ban tổ chức, tôi còn nhớ cả một rừng người tham dự phá tan cái sự tĩnh lặng êm ả của xứ sở cao nguyên từ bấy lâu nay, và tạo nên một sự nô nức náo nhiệt chưa từng thấy. Khi đoàn xe mô tô từ phi trường tiến vào thị xã, những tiếng vỗ tay luôn vang dội không ngừng và chuông nhà thờ đổ từng hồi, nhất là khi vị tân Giám Mục về đến khán đài được dựng lên ở ngã Sáu, có sự hiện diện của các Giám Mục và quan khách khắp nơi…Dù được dặn dò kỹ lưỡng của các Frère, nhưng chúng tôi cũng không thể nào đứng mãi một chỗ trước cảnh vô cùng náo nhiệt ngày hôm đó, và nhớ mãi hình ảnh sự kiện long trọng này.
...
(Còn tiếp)
VƯƠNG HỮU THÁI
(Trích trên nguồn http://www.lsvn.info/modules.php…)
Chú giải:
[1] Khi Giáo Phận Ban Mê Thuột được thành lập, thì khu đất thuộc về Dòng Nữ Vương hòa Bình.
[2] Khu đất này về sau giao cho các soeur Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn để lập Trường Trung Tiểu học Vinh Sơn, dạy từ Mẫu Giáo đến lớp 9 tọa lạc trên đường Phan Chu Trinh và Đại Lộ Tự Do.
[3] Về sau mở thêm cấp Tiểu Học vì số học sinh tăng mạnh.
[4] Đức cha Paul – Seitz sinh ngày 22/12/1906 tại Le Havre - Pháp, thụ phong Giám Mục Giáo Phận Kon Tum ngày 24/11/1960, hồi ấy bao gồm: KonTum, Pleiku, Ban Mê Thuột. Đức cha rời Việt Nam 15/8/1975 và qua đời 24/02/1984 tại Paris –Pháp.
[5] Trước 1970, bậc Tiểu Học ngoài Mẫu giáo gồm các lớp: Nhất , Nhì, Ba, Tư, Năm ( lớp1-2-3-4-5 bây giờ)
[6] LM. GiuSe Trịnh Chính Trực (1925-2011) được tấn phong Giám Mục phó ngày 15/8/1981,và là Giám Mục Chính Tòa Giáo Phận Ban Mê Thuột năm 1990 sau khi Đức Cha Phê rô Nguyễn Huy Mai qua đời 4/8/1990
[7] Sau đó trở thành Nhà thờ Chánh tòa.
[8] Trước 1970 Trung Học Đệ I Cấp gồm các lớp: Đệ Thất, Đệ lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ (Lớp 6-7-8-9 bây giờ) Đệ II Cấp gồm các lớp: Đệ Tam , Đệ Nhị. Đệ Nhất( 10-11-12 bây giờ)
[9] Ngừng hoạt động 10-03-1975, và hiện nay là Trường Bồi Dưỡng chính Trị

Ban mê xưa...

Ban mê xưa... Nhìn ảnh có thể thấy ngay phòng tập Tea Kwon Do của võ sư Nguyễn Văn Bé ngày ấy!
SÂN VẬN ĐỘNG BMT (Năm 1969-1970)

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

Ban mê xưa... CÔ NHI VIỆN VINH SƠN

Ban mê xưa... một cơ sở trong công tác xã hội của Tu Hội Vinh Sơn thuộc giáo phận Ban Mê Thuột...(Bây giờ là trường Mầm Non Thắng Lợi, 17 Phan Bội Châu, tp BMT)
CÔ NHI VIỆN VINH SƠN
Kể từ năm 1953, các chị em Nữ Tử Bác Ái hiện diện tại Giáo phận Ban Mê Thuột với số chị em rất khiêm tốn. Cộng đoàn 3 chị tiên khởi tăng dần theo nhu cầu phục vụ. Tổng số các chị em Nữ Tử Bác Ái phục vụ tại Cộng đoàn Ad Gentes Ban Mê Thuột 99 chị, một số chị đã về với Chúa, một số chị cao niên đang sống tại nhà hưu dưỡng và một số chị em khác được chuyển tới những nơi khác để phục vụ...
Tình yêu Đức Kitô chịu đóng đinh làm sinh động và nung đốt trái tim người Nữ Tữ Bác Ái, thúc bách chị em chạy tới phục vụ mọi cảnh khốn cùng.
-Các Công tác xã hội:
Cô Nhi Viện:
. Thành lập: 01/05/1957, với tên gọi Cô Nhi Viện Vinh Sơn.
. Mục đích: Nuôi dưỡng giáo dục các em mồ côi hoặc mất cha, mất mẹ, gia đình bệnh hoạn tật nguyền…
...
...

HOA UẤT KIM HƯƠNG *Ghi chép của Giang Lân

Ngày xưa ở Ban mê, có quán cà phê trên đường Hai Bà Trưng được đặt tên một loài hoa...
HOA UẤT KIM HƯƠNG
*Ghi chép của Giang Lân
...
Uất kim hương có vẻ đẹp sang trọng và lịch sự. Hoa nổi hình kim hoặc hình chén. Bông hoa to mọng căng, giữa có chùm nhụy hoa cong cong gợi cảm. Hoa bọc sáu cánh chia làm hai hàng trong và ngoài. Hoa có nhiều màu sắc khác nhau, hương thơm ngào ngạt. Vẻ ngoài Uất kim hương hao hao giống Hoa sen, lại cũng tựa tựa hoa Mẫu đơn nữa. Nay thì Uất kim hương là hình ảnh tượng trưng cho đất nước Hà Lan. Là “tứ đại quốc bảo” của Hà Lan, bao gồm: cối xay gió, pho-ma, guốc gỗ và hoa Uất kim hương. Tuy nhiên nó còn được trồng nhiều ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hung-ga-ry và Iran.
Thật ra quê hương của hoa Uất kim hương là ở Cao nguyên Tây Tạng – Trung Quốc, và tên gọi Uất kim hương là từ nơi ấy. Nay Tây Tạng vẫn còn sinh trưởng không ít loài hoa Uất kim hương hoang dã. Hơn 2000 năm trước, hoa Uất kim hương được truyền đến Thổ Nhĩ Kỳ từ vùng Trung Á. Tương truyền vào thế kỷ XVI, một vị sứ giả người Áo tại Thổ Nhĩ Kỳ nhìn thấy hoa Uất kim hương có sắc màu diễm lệ, bèn lấy một số cây mang về Vinara và trồng trong Cung đình Vinara. Một người Hà Lan lại lấy giống nó mang về Hà Lan. Sau khi người Hà Lan say mê trước vẻ đẹp diễm lệ, tao nhã, quý phái của hoa Uất kim hương, lập tức nó được nhân trồng quảng bá, được nổi tiếng khắp nước, và được đặt tên là hoa Tuy-líp. Hoa Tuy-líp trở thành loại hoa có giá trị rất cao...
Hoa Uất kim hương hay Tuy-líp cũng thế. Nguồn gốc và truyền thuyết về nó được dựng thành những câu chuyện ly kì và bí hiểm, được gắn với đặc trưng văn hóa của quốc gia đó để chứng minh rằng “Nó là của riêng ta!” Truyền thuyết đầu tiên về hoa Tuy-líp là truyện: “Tuy-líp – Cuộc chạy trốn bất thành”. Chuyện rằng: “Một lần đưa cơm cho cha, Tuy-líp – cô con gái của người chăn cừu, đã bị tên điền chủ bắt cóc đưa về làm thợ dệt thảm cho hắn. Cô bị nhốt trong một gian nhà tối om. Một mùa hạ tối tăm và tuyệt vọng trôi qua. Rồi một mùa thu buồn bã và một mùa đông lạnh lẽo cũng hết. Khi xuân đến, nỗi buồn nhớ cha mẹ, vườn nhà, núi non bỗng dày vò Tuy-líp khôn nguôi. Nàng quyết định bỏ trốn chứ không thể chết ở nơi đây. Một bữa nọ, kế hoạch bỏ trốn của nàng được các cô gái cùng cảnh ngộ ủng hộ. Vượt qua khung cửa sổ găm đầy mảnh thủy tinh, toàn thân nàng bị cứa rách đầy máu me. Tuy-líp chạy về phía đồi núi. Bị lộ. Tên điền chủ phi ngựa đuổi theo. Tuy-líp bị ngựa áp sát. “Không để bị bắt lại!” Nàng nghĩ, và quyết định quay đầu lao vào chân ngựa. Ngựa ngã. Điền chủ bị văng vào vách đá. Tuy-líp gượng dậy nhưng không còn đủ sức, nàng lảo đảo ngã xuống tuyết. Sớm hôm sau, từ nơi Tuy-líp nằm, một cảnh tượng lạ lùng hiện ra, trên bãi tuyết trắng lạnh xuất hiện cơ man bông hoa đỏ bừng nở. Người ta lấy tên nàng đặt cho hoa gọi là hoa Tuy-líp từ đó, tạo vẻ đẹp cho đời.”
Lại có chuyện tên hoa Tuy-líp bắt nguồn từ đâu? Là loại hoa của Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Hình ảnh của hoa được khắc họa trong nghệ thuật dân gian ở Ba Tư cũ và Thổ Nhĩ Kỳ. Cái tên châu Âu Tuy-líp bắt nguồn từ một từ tiếng Ba Tư “Turban”, nghĩa là khăn xếp, là từ tập quán cài hoa lên chỗ xếp khăn của người Ba Tư. Cũng có thể là từ đặc điểm của hoa khi chưa nở to, giống chiếc mũ không vành hay khăn xếp. Người Thổ Nhĩ Kỳ lại cho rằng không rõ từ khi nào, mà chỉ biết hoa Tuy-líp bắt nguồn từ Thổ Nhĩ Kỳ với tên gọi “Tulipan”, vì hình dáng như chiếc khăn đội đầu của người Thổ thời kỳ đó. Chứng minh điều này có chuyện kể: Vua Thổ trước khi có lễ cưới một ngày, đã lệnh cho người làm vườn trong ngày cưới của mình phải có nhiều hoa Tuy-líp trưng bày trong Cung đình. Và ngoài vườn thì đầy hoa nở. Đận ấy là tháng 11. Người làm vườn nhờ một đạo sĩ thổi sáo suốt một ngày một đêm. Kỳ lạ thay sáng sớm hôm sau vườn hoa nở rộ đầy màu sắc. Vua Thổ ban thưởng người làm vườn một thanh vàng. Người làm vườn xin được trao lại cho người đạo sĩ và thưa rằng công ấy là của ông ta.
Vậy có hoa “Tuy-líp đen” như trong tiểu thuyết của Alexandre Dumas? Đêm tối ngự trị màu đen huyền bí, sức mạnh siêu nhiên. Nên hoa màu đen đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của con người về vẻ đẹp và sức mạnh tâm linh, và gắn cho nó nhiều huyền thoại huyễn hoặc. Người ta đã cố gắng rất nhiều trong lai tạo nhằm có được loại hoa Tuy-líp đen. Nhưng thất bại. Rồi lại dùng mọi thủ thuật bí mật, cũng chỉ cho ra đời loại Tuy-líp có màu tím xẫm hay đỏ xẫm, và cứ đồn bừa lên nó là đen. Dù sao chăng nữa những câu chuyện như thế được truyền đi rất nhanh, thêu dệt thêm yếu tố huyền bí như là một phát hiện mới, làm cho hoa Tuy-líp càng nổi tiếng và hấp dẫn. Tựu trung, chỉ có người Hà Lan là giàu có rất nhanh từ hoa Tuy-líp. Loài hoa được xếp vào hàng phát triển như “Cơn sốt vàng”...
Ghi chép của Giang Lân

HOA THIÊN LÝ NGÀY XƯA *Hoàng Nhật Tuyên

Tội nghiệp thằng bé nhớ thương mãi quê nhà
Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa ...
HOA THIÊN LÝ NGÀY XƯA
*Hoàng Nhật Tuyên
Tôi nhớ, ngày xưa, nhà em có trồng một giàn hoa thiên lý. Cứ mỗi độ thu về, giàn dây leo ấy nở đầy những chùm hoa, mà mỗi bông hoa như những ngôi sao có màu xanh non vương vương sắc trắng.
Đó là loài hoa chiều chiều theo gió tỏa đi mùi hương thoang thoảng, dịu ngọt, và chúng mình ngày ấy đang ở tuổi học trò mười bốn, mười lăm. Đã có những buổi cả đám chúng mình ngồi tụm đầu vào nhau, mở sách, giải những bài toán khó, rồi cùng cười đùa, rượt đuổi nhau bên cái bờ rào bằng chè tàu phủ kín những dây tơ hồng vàng óng. Đã có những buổi chiều, cùng học với nhau xong, cả bọn trèo lên cây khế ở bờ ao, hái những trái khế chua, chấm muối rồi cười nhăn cả mặt, rồi trêu chọc, cười đùa, có đứa còn ghép đôi, đuổi nhau, đấm vào lưng nhau thùm thụp… trong khi khắp sân, nắng đã nhạt màu và mùi hương hoa lý giăng đầy.
Tôi nhớ hoài có lần em mượn tôi cuốn sách có in câu chuyện nói về tình yêu rất đẹp gắn liền với loài hoa ấy. Trả sách cho tôi, em khen truyện hay, cảm ơn, rồi nhìn tôi với ánh mắt rất lạ. Ánh mắt ấy, ngày xưa tôi nào biết ẩn chứa điều gì, để rồi tháng năm đi qua trong lòng tôi vẫn còn là dấu hỏi.
Hoa thiên lý ngày xưa! Tôi lớn lên hơn, muốn mượn câu ca dao “Tóc em dài em cài bông hoa lý. Miệng em cười anh để ý anh thương”, để gửi về phía em những điều đêm đêm mình thao thức. Nhưng dạo ấy khi tuổi học trò chúng mình chưa đi hết thì chiến tranh đã đến...
...
“Tóc em dài em cài bông hoa lý…”. Câu ca dao xưa, chiều nay, tôi đọc lại. Câu ca dao suốt một đời, tôi định mượn để ngỏ cùng em nhưng chưa kịp nói. Để rồi bao năm đi qua, chiều nay, nơi quê nhà tôi lang thang, chạnh nhớ ngày xưa…
HOÀNG NHẬT TUYÊN

HOA MƯỚP *Vũ Tú Nam

– Mướp của chúng bay ăn no tốt lá quá, quên cả ra hoa! Để bà phải làm phép cho…
HOA MƯỚP
*Vũ Tú Nam
...
Đầu hè năm ngoái, chị Dung tôi và tôi, hai chị em trồng hai cây mướp. Một cây ở bờ ao. Một cây ở bên gốc mít. Bố tôi rất khuyến khích hai chị em tập làm, nên khi hai hạt mướp mới chỉ nở ra hai cái mầm bé tí ti, bố tôi đã lấy dao chặt tay tre ở bờ rào, buộc thành hai cái giàn rất đẹp cho mướp leo. Một cái gác vào cây mít. Một cái chìa ra mặt ao như mái nhà. Sáng nào chị em tôi cũng ra tưới cho mầm cây và chờ nó lớn. Sao mà nó lớn chậm thế! Mấy cái lá mảnh mai, màu xanh như men sứ. Cái gốc ẻo lả, yếu ớt, có lẽ chỉ cần một con gà nhép giẫm lên là gẫy nát ngay. Tôi nhìn lên cái giàn to đùng mà sốt cả ruột- biết bao giờ mướp của chị em tôi mới leo kín được cái diện tích khổng lồ này, và bao giờ thì nó có quả? Trường tôi tổ chức trại hè ba ngày ở huyện. Chị em tôi quên bẵng mất hai cây mướp. Về tới nhà, được nghe bà tôi nhắc ngay:
– Chúng bay trồng cây mà chả biết chăm cây. Bà phải cắm que cho mướp nó bám vào cột giàn đấy.
Trời ơi, thích quá! Hai cây mướp xinh xỉnh xình xinh đang rón rén cuốn cái ngọn bé xíu vào chiếc cọc bà đã cắm cho, để cố gắng leo lên cột giàn! Bố nhắc chúng tôi đắp thêm đất vào gốc mướp cho cao, vì giống mướp không chịu nước. ít hôm sau, mướp đã leo thoăn thoắt lên tận mặt giàn. Nó dừng lại để nhìn địa thế khắp chung quanh, rồi đêm đến chia “quân” thành nhiều nhánh mọc lan ra tứ phía. Những tay mướp mềm mại, thanh mảnh, ngóc lên rung rinh trước gió, cứ như là có mắt ấy, vì chúng chọn rất trúng những vật để bám vào, quấn vào. Chẳng bao lâu, hai giàn mướp đã xanh um những lá. Chúng tôi trải chiếu bên gốc mít vừa đọc truyện, hoặc chơi bán hàng, có cả cái mái dày lá mướp che cho khỏi nắng. Một hôm, đi chợ về, bà tôi đứng ngắm hai giàn mướp và bảo:
– Mướp của chúng bay ăn no tốt lá quá, quên cả ra hoa! Để bà phải làm phép cho…
Bà vào nhà lấy con dao bài, rạch gốc mướp ra, nhét vào mỗi gốc cây một mảnh sành. Tôi và chị Dung thương hai cây mướp quá, chắc chúng nó đau lắm đấy. Quả thật phép của bà tôi “thiêng” y hệt phép tiên. Bị chích ở gốc, cây mướp không đau, không chột. Ngược lại, nó càng khỏe thêm thì phải. Dòng nhựa ứa ra, bao quanh mảnh sành, rồi gốc mướp lớn lên rất nhanh, vết thương liền da lại, cuộn chặt mảnh sành vào giữa. Nhánh mọc ra thật nhiều, lá thưa và bớt xanh đi. Đột nhiên, một buổi sáng, nhìn ra vườn chị Dung bỗng reo lên:
– Bà ơi, hoa mướp!
Thật là tuyệt! Mấy bông hoa vàng như những đốm nắng đã nở sáng trưng giàn mướp xanh mát. Cái giàn trên mặt ao soi bóng xuống làn nước lấp lánh hoa vàng, khiến mấy chú cá rô cứ lội quanh lội quẩn ở đó chẳng muốn đi đâu. Cứ thế, hoa nở tiếp hoa. Rồi quả thi nhau chồi ra. Bằng ngón tay. Bằng con chuột. Rồi bằng con cá chuối to. Có hôm hai chị em tôi hái không xuể. Nhà ăn không hết, bà tôi sai mang biếu cô tôi, dì tôi, cậu tôi, chú tôi, bác tôi, mỗi nhà một quả. Đậu quả nhiều quá, hai cây mướp rạc dần. Bà tôi chọn hai quả mướp đẹp nhất ở hai giàn, bà đánh dấu không cho hái. Bà bảo để làm giống. Cuối mùa, hai giàn mướp xơ xác. Quả mướp giống tròn mập lắt léo phơi ra giữa trời, nắng xói từ sớm tới chiều, hết ngày này qua ngày khác. Khi nó đã khô, nhẹ bỗng như cái tổ chim, bà tôi cắt xuống, để lên gác bếp. Tôi cầm quả mướp khô, lắc lắc. Những hạt mẩy nhảy roọc rẹc ở trong ấy. ôi, nó chịu nắng giỏi đến thế, hèn nào mà hoa nó vàng thật là vàng…
...
Vũ Tú Nam
(Trích trong "Hoa Nắng" của nhà văn Vũ Tú Nam)

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

Lên cao mới biết non cao... BỐ TÔI *Hải Lê

Lên cao mới biết non cao...
BỐ TÔI
*Hải Lê
...
Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi. Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.
Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi là một lính VNCH, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe , cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim..vv…
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.
Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I Love You Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ triu mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.
Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.
Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa
Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những giòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục...
...
Hải Lê
(Trích đoạn "Bố tôi, người lính Việt Nam Cộng Hòa" của Hải Lê đăng trênhttp://batkhuat.net/van-botoi-nguoilinh-vnch.htm)