Giới thiệu bản thân

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Sáu, 23 tháng 6, 2017

LÀM DÂU XỨ HUẾ (Truyện vui của Thùy An)

Giọng Huế chi lạ rứa...
LÀM DÂU XỨ HUẾ
(Truyện vui của Thùy An)
1. Quen Khanh đã ba năm, tôi không hề biết anh là người Huế. Anh nói tiếng Nam ngọt xớt. Những danh từ rất Nam bộ như “hưỡn”, “xí xọn”… anh đều hiểu rõ và đôi khi còn áp dụng vào những câu chuyện khôi hài rất có duyên. Cho đến khi tình cảm hai đứa chín muồi, Khanh ngõ ý:
-Ba me anh muốn biết mặt em.
Tôi theo Khanh về nhà trong tâm trạng vô cùng hồi hộp. Dù đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi vẫn cảm thấy bối rối, chân tay thừa thải trước tia nhìn vừa dịu dàng vừa soi mói của mẹ Khanh. Đó là người phụ nữ ngoài năm mươi, gương mặt tròn trịa, nước da trắng mịn phảng phất vài nếp nhăn nơi đuôi mắt. Tóc bà nhuộm màu nâu đen, được bới cao, cài trâm đồi mồi trông rất quí phái. Bà trang điểm nhẹ nhàng, một chút phấn hồng và môi son màu nhạt.
-Thưa mẹ, đây là Kiều Tiên, bạn gái của con.
Nụ cười của bà thật tươi:
-Kiều Tiên à? Cái tên dễ thương hí. Ngồi chơi đi cháu. Chờ bác một chút.
Bà đứng dậy đi vào trong, để lại tôi ngơ ngác sau khi nghe một loạt âm thanh líu lo như chim hót. Khanh nheo mắt:
-Sao? Không hiểu à? Anh đã nói rồi, gia đình anh người Huế, vậy mà không tin. Em có phải là chắt nội của Tào Tháo không đó?
Mẹ Khanh ra, trên tay bưng một cái dĩa hình bầu dục tráng men xanh. Bà đến gần tôi, đặt dĩa lên bàn:
-Ăn đông sương với bác cho vui.
Đông sương? Không phải. Đó là những miếng thạch dày khoảng hai phân, được cắt thành từng miếng hình thoi bằng ba ngón tay. Rải rác giữa lớp thạch trong suốt là những khối vuông nhỏ màu trắng, đen, nâu, cam và xanh lá cây.
Mẹ Khanh nhìn tôi chăm chú. Hình như bà đang nghĩ, con nhỏ này câm chắc? Và tôi cũng nghĩ, Kiều Tiên, hãy nói một câu gì đi chứ.
-Cháu cám ơn. Ô, thạch của bác làm đẹp quá.
Mẹ Khanh vui vẻ:
-Người Huế gọi thạch là đông sương cháu à. Cháu ăn đi, đừng sợ, bác không dùng màu thực phẩm mô –rồi bà lấy tăm ghim miếng thạch lên săm soi –cháu coi màu nì, màu trắng là sữa, đen là cà phê, nâu là cà phê sữa, lục là nước lá dứa, còn màu gạch là nước cà rốt.
Màu “gạch” là màu “cam”! Tôi lại học được một từ đặc trưng của Huế. Miếng thạch ngọt thanh tan trên đầu lưỡi, thấm vào lòng tôi những cảm giác dịu êm.
Cổng nhà Khanh bỗng mở toang. Một người đàn ông trung niên,giống Khanh như tạc phóng xe máy vào. Ông đứng trước thềm, tươi cười nhìn mẹ Khanh rồi chỉ tay vào giỏ xe: một chậu hoa dâm bụt vừa nở hai nụ hàm tiếu màu vàng. Mẹ Khanh đến gần, ngắm nghía:
-Mình mới mua hả? Ôi bông cẩn vàng, đẹp thiệt đó.
Tôi tròn mắt. Khanh ghé vào tai tôi:
-Người Huế gọi “Hoa dâm bụt” là “bông cẩn”.
Ba Khanh bước vào phòng khách, mẹ Khanh theo sau bảo Khanh:
-Con bưng chậu hoa xuống rồi đi cất xe cho ba.
Tôi đứng dậy, vòng tay:
-Cháu chào bác ạ.
-Cháu là bạn gái của Khanh phải không? Bác gái nói cho bác biết rồi.
Ba Khanh ngồi đối diện tôi, hỏi han ân cần. Giọng ông ấm áp, tuy âm sắc hơi nặng, có nhiều từ tôi không hiểu rõ, chỉ lờ mờ đoán ra. Nhưng ánh mắt ấy, cử chỉ ấy đã nói lên một tình cảm chân thành.
2. Tôi nhận lời cầu hôn của Khanh, mặc cho những lời bàn ra tán vào của đám bạn. Thật ra cũng vì thương tôi, nên chúng nó mới đề cao cảnh giác nhiệt tình như thế. Nào là: “Công dung ngôn hạnh mày có được bao nhiêu mà dám uống thuốc liều hở?”, “Làm dâu người Huế khó lắm, mày chịu được sao?”, “Chúng tao khuyên mày nên đi học vài khoá nấu ăn, làm bánh mới đủ sức đối phó.”…
Tôi bịt hai tai, hét:
-Chúng mày có im hết đi không? Tình yêu của Khanh đã cho ta đầy đủ mười thành công lực.
Nói thì oai lắm, nhưng lòng tôi cũng hơi run khi nghe ba Khanh bảo:
-Đám cưới xong, Khanh nên đưa Kiều Tiên về Huế thăm mệ và mấy O. Xa xôi quá, không ai vào chung vui cùng hai con được. Ba nghĩ là họ rất mong thấy mặt con dâu của ba.
Tôi lại càng run. Cái gì “mệ”, cái gì “O”?
Khanh lại “phụ đề Việt ngữ”:
-Mệ là… bà nội của anh đó. Còn O là hai người em gái của ba.
-Như vậy “O” có nghĩa là “cô” phải không anh?
-Đúng. Cho em 10 điểm. Còn “mệ”?
-Mệ là… bà nội chớ gì.
-Mệ là bà thôi. Mệ nội, mệ ngoại, là bà nội, bà ngoại.
-Sao hồi nãy anh nói mệ là bà nội? Tiền hậu bất nhất, cho anh zéro điểm là vừa.
-OK, anh chịu thua em 1 – 0 đó, bây giờ nghe anh nói tiếp nè.
-Bộ anh muốn em loạn thần kinh hả?
Khanh dỗ dành:
-Nếu em không chịu cho anh truyền thêm nội công thì làm sao ứng phó với bà con nội ngoại của anh ngoài Huế chứ.
Có lý. Mặc dù tôi chưa quen nghe giọng Huế, nhưng nếu tôi hiểu được những từ người Huế thường dùng, thì sự đồng cảm giữa tôi và “giang sơn nhà chồng” sẽ dễ dàng hơn. Tôi lấy tờ giấy và cây bút:
-Được rồi, anh nói đi. Em sẽ ghi và học thuộc lòng.
Khanh phấn chấn ra mặt:
-Em ngoan quá –rồi tằng hắng –Anh bắt đầu nè. Người Huế từ “mô” là “đâu”, ví dụ “anh đi mô?” có nghĩa là “anh đi đâu?”, “bên ni” là “bên này”, “bên nớ” là “bên kia”, “răng” là “sao”, “rứa” là “thế”, “kiệt” là “hẻm”, “tra” là “già”, “ăn kỵ” là “ăn giỗ”…
Đầu óc tôi lùng bùng, tay chân tôi quờ quạng. Khanh đặt câu hỏi:
-Đố em, “ôn” là gì?”
Tôi xếp giấy lại, thở phào:
-Anh hết vốn rồi hả? Đố như anh, con nít cũng biết. Ôn là ôn tập chớ gì.
Khanh kí vào đầu tôi:
-Cho em xuống học lớp Lá là vừa. “Ôn” là “Ông”. Gặp các ông già, người ta thường “Thưa ôn”, cũng như đối với các bà lão, người ta thường “thưa mệ”…
Khanh tiếp tục đưa tôi vào mê hồn trận:
-À, anh nhắc em điều này, nếu thấy một người đàn ông được gọi là “Mệ” thì em cũng đừng ngạc nhiên, vì đó là những người trong hoàng tộc…
Tôi hét lên:
-Cái gì? Ôi em bị tẩu hoả nhập ma rồi.
3. “Giang sơn nhà chồng” của tôi toạ lạc giữa một khoảng vườn xanh tốt trong thành nội, gồm ba căn nhà trệt lợp ngói rộng rãi, ngăn cách nhau bởi các dãy hàng rào bằng cây thấp, lá nhỏ, quấn quít những sợi dây leo màu vàng. Khanh nói:
-Bà nội anh rất thích chăm sóc vườn tược. Hàng rào chè tàu này còn già hơn tuổi của anh nữa đó, còn kia là những dây tơ hồng. Em thấy có đẹp không? Ngày trước, nhà anh chỉ có một căn thôi, sau này hai O lập gia đình, bà nội mới xây thêm hai căn nữa, của hồi môn ấy mà.
Có tiếng reo:
-Khanh, cháu Khanh đó phải không?
Một phụ nữ khoảng trên dưới năm mươi, mặc quần tây nâu, áo hoa sặc sỡ, từ căn nhà bên phải chạy ra. Tóc bà uốn cao, nước da trắng, miệng cười có má lúm đồng tiền.
-Đây là O Hương của anh.
-Cháu chào… O ạ.
O Hương tiến đến gần, vuốt má tôi:
-Vợ thằng Khanh đây hả. Chà, hai đứa xứng đôi lắm đó nghe –rồi bà kéo tay tôi và Khanh về phía căn nhà giữa –Mạ ơi, vợ chồng Khanh về tới rồi nì.
Khanh nhìn sang căn nhà bên trái cửa khoá ngoài. O Hương nói:
-O dượng Hoà về làng ăn kỵ rồi. Chắc là mai mới lên.
Nãy giờ tôi cố ý lắng nghe. Eureka, tôi đã nhớ. “Ăn kỵ” là “ăn giỗ”, còn “mạ”? Chắc là “mẹ” rồi. Xem ra tiếng Huế đâu có khó gì, khỏi cần Khanh làm thông dịch.
Bà nội của Khanh rất đẹp lão. Mái tóc bà bạc phơ, gương mặt hồng hào, phúc hậu. Bà đang ngồi trên chiếc ghế mây cạnh ngưỡng cửa, miệng cười móm mém, âu yếm nhìn Khanh đi bên tôi.
-Chúng cháu chào mệ.
Bà gật đầu rồi đưa tay níu lấy vai Khanh:
-Đỡ mệ vô nhà.
Bà nhỏ bé trong vòng tay Khanh, bước chân bà khập khiểng. Khanh lo lắng:
-Mệ, mệ bị sao vậy?
O Hương đỡ lời:
-Hôm qua mệ ra vườn tưới cây, mệ bị bổ.
-Im đi, tau bớt rồi –bà nhìn O Hương từ đầu đến chân –mi bận cái áo chi mà loè loẹt rứa? Tra rồi, gần làm mụ gia rồi, còn bày đặt diện.
Tôi nói nhỏ với Khanh:
-Em hiểu từ “tra” rồi, nhưng “bổ”là gì? Còn “mụ gia”?
-“Bổ” là “té”, còn “mụ gia” là “mẹ vợ” hoặc “mẹ chồng”. Xứ Huế anh có câu: “Thương chồng mà khóc mụ gia, chớ tui với mụ chẳng bà con chi.”
Tôi che miệng cười. Bà nội Khanh ngồi trên sập gụ, vẫy Khanh và tôi lại gần. Bà vuốt tóc tôi:
-Mệ có coi bóng đám cưới, trông cháu đẹp hơn trong bóng nhiều. Biết hai cháu sắp ra thăm mệ, đêm mô mệ cũng nằm chộ.
Khanh thông dịch ngay:
-“Bóng” là “hình”…
Tôi ngắt lời:
-Còn “nằm chộ” là “nằm mơ”, đúng không?
-Very good, em thông minh thật đấy.
Bà nội Khanh có vẻ thích tôi. Bà kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện, từ chuyện làng xóm, đến chuyện những người trong họ tộc, chuyện gia đình Khanh… giọng bà nhẹ nhàng, thân ái. Vì đã ôn tập trước, nên những từ rặt Huế như răng, mô, tê, rứa… tôi hiểu dễ dàng. Và càng lúc, tôi càng thấy gần gũi bà, thương yêu bà hơn.
-Cháu biết không? Chồng của cháu rất thích ăn chè thịt quay.
Chè thịt quay là gì? Tôi nhìn quanh tìm Khanh. Nhưng thôi, khỏi cần thắc mắc, chẳng qua cũng chỉ là món chè bình thường, cứ ăn vào là biết ngay thôi mà. Bà gọi:
-Hương ơi, lấy cà mèn đi mua chè thịt quay cho các cháu ăn đi con.
O Hương bảo Khanh:
-Cháu qua nhà dắt dùm chiếc xe ra cho O.
-Để cháu chở O đi.
Khanh đến bên tôi:
-Em ở nhà với mệ được không?
Tôi vênh mặt:
-Anh khỏi lo. Mệ nói gì em cũng hiểu hết.
*
Tôi đi thơ thẩn trong vườn. Nắng chiều dìu dịu, gió chiều êm ái. Lòng tôi rộn vui theo tiếng chim hót chuyền cành. Hình như bà nội gọi:
-Vợ thằng Khanh mô rồi?
Tôi hấp tấp chạy vào:
-Mệ sai cháu gì ạ?
-Cháu ra ngoài “cươi” lấy cái “chủi”, “xuốt” dùm mệ cái “dà”.
-!!!
Lần này thì tôi thua thật. Khanh ơi, mau về cứu em.
THÙY AN

Kính chào Huế rất sương mù...

Kính chào Huế rất sương mù...
TRỞ LẠI HUẾ
( Mường Mán )
Vẫn mù sương phố sông này
về nghe vàng lạnh xuống đầy mấy vai
không em đầu ngõ trúc mai
phượng bay rối bước chân tôi ngập ngừng
nghìn trùng nắng chết mênh mông
người lên tiếng gọi vọng không âm thừa
quán ngồi chưa mỏi lưng trưa
đã vai chiều lệch so vừa bóng thu
kính chào Huế rất sương mù
mình tôi dọc phố âm u lặng thầm
thơ nào vừa lã giọng ngâm
rượu nào vừa rót tay không đưa mời
bạn bè ơi Huế tôi ơi
chìm theo chiếc lá vàng rơi tan mùa.
(Việt nam 30/9/1982)
...
Sáng nay, chuẩn bị cho một tác phẩm mới, tôi gặp lại trang báo Việt Chiến này trong hồ sơ cũ. Đọc lại, bồi hồi. Muờng Mán và tôi có cùng những điểm tương đồng. Chúng tôi đều trưởng thành ở Huế. Chúng tôi đều lưu lạc về Cần Thơ. Sau 1975, chúng tôi cũng có chung những cánh đồng hay những vùng đất trích. Mường Mán đi chăn vịt. Còn tôi thì làm thợ phụ cất nhà lá, hay đấp nền, khuân gạch từ lò lên ghe và từ ghe lên chỗ cất nhà. Sau đó tôi đổi nghề, đi bán cà rem. Mường Mán vẫn tiếp tục chăn vịt. Chiều nào Mường Mán cũng ghé lại nhà tôi, kêu tôi ra ngồi quán cốc, nhâm nhi rượu đế và khô… Cho đến một ngày Mường Mán không còn thấy tôi nữa. Tôi vượt biển, bỏ vợ con lại nhà. Mường Mán đến như thường nhật, hỏi tôi đâu. Y. dấu, nói anh ấy đi bán cà rem chưa về. Mường Mán vẫn ngồi chờ trên băng đá. Vợ tôi kể là Mường Mán rất lo, bâng khuâng về việc tôi về quá trễ…
Sau đó, anh không còn đến nhà tôi nữa.
Có lẽ anh đã biết về việc tôi đào thoát.
Bây giờ, không còn ai bâng khuâng về ai nữa. Ai cũng có một số phận an bài. Thời ấy đã xa xưa. Giờ là hoài niệm. Đọc lại thơ bạn, mà rưng rưng. Hôm qua nghe lại Huế gọi tôi về do hai nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng và Nhật Ngân cùng sọan chung. Và sáng nay đọc bài thơ bạn viết về Huế mà Nguyễn Công Minh đã mang theo trong chuyến vượt biển bỗng thấy nhớ Huế da diết Vâng, chúng tôi có một thành phố để gởi đến trái tim. Riêng tôi: thành phố mù sương, phố cổ mù sương:
Có một giòng sông mềm như dải lụa
Có hai ngôi trường như đôi tình nhân,
Có một con đường mỗi ngày hai bận,
Anh theo em về, qua bến qua sông.
Có một chiếc cầu bắc qua thành phố.
Thành phố mù sương, phố cổ mù sương.
Có anh tội tình như loài cổ thụ.
Em đậu trên cành, làm anh bâng khuâng.
Có buổi trời mưa, trời mưa không ngớt,
Có em xăn quần, bên đập chờ ghe,
Không biết nhìn lên hay là nhìn xuống,
Thôi thì quay về, để khỏi u mê.
Có một ngôi nhà, muốn vào không dám.
Có một nỗi buồn cứ bám chung thân.
Con sóc dại khờ gặm hoài trái đắng,
Và anh dại khờ nên mới yêu em.
(Huế gọi tôi về – Trần Hoài Thư)
...


Thứ Tư, 21 tháng 6, 2017

KỴ HÚY DƯỚI THỜI NHÀ NGUYỄN

Nghe chuyện kinh thành Huế...
KỴ HÚY DƯỚI THỜI NHÀ NGUYỄN
Người Đàng Trong kỵ húy các chúa Nguyễn nên đọc biến âm một số từ ngữ:
Tên chúa Tiên là Hoàng nên đổi họ Hoàng thành Huỳnh, chữ "hoàng" cũng đọc là "huỳnh" (lưu huỳnh).
Nguyễn Phúc Khoát là "Vũ Vương", nên người họ Vũ ở Đàng Trong đổi thành họ Võ.
Chữ "Phúc" đọc thành "Phước" để tránh chữ "Phúc" trong họ Nguyễn Phúc của vua chúa nhà Nguyễn.
Chữ "Cảnh" là tên Nguyễn Phúc Cảnh (con cả Nguyễn Ánh, người được Ánh đưa sang Pháp làm con tin để đổi lấy sự giúp đỡ đánh Tây Sơn) đọc là "kiểng", nên "cây cảnh" gọi là "cây kiểng".
Chữ "Kính" là tên Nguyễn Hữu Kính, người khai lập Sài Gòn phải đọc chệch là "kiếng" nên "tấm kính" gọi là "tấm kiếng".
Chữ "Tông" là tên Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị (cháu nội Nguyễn Ánh), phải đọc là "tôn".
Do đó một loạt sử sách chép miếu hiệu các vua như Lý Thánh Tông, Lê Thánh Tông, Trần Thái Tông, v.v... đều ghi là Lý Thánh Tôn, Lê Thánh Tôn, Trần Thái Tôn, v.v... Đến tận sau này một số sách sử thời hiện đại vẫn bị ảnh hưởng này và chép miếu hiệu các vua từ "Tông" thành "Tôn".
Các tên đường phố tại miền nam Việt Nam, mà tên gọi là miếu hiệu các vị vua, hiện nay cũng đa phần ghi Tông thành Tôn. Chẳng những thế, một dòng họ hoàng tộc, cũng vốn phải đọc là "Tông Thất", nhưng vì kiêng húy chữ Tông này nên phải đọc thành "Tôn Thất".
Chữ "Thì" là tên thời nhỏ Nguyễn Phúc Thì của vua Tự Đức nên đọc thành Thời.
Chữ "Nhậm" là tên chữ Nguyễn Phúc Hồng Nhậm của vua Tự Đức nên đọc thành Nhiệm.
Ngoài ra còn nhiều chữ kiêng húy nữa nhưng ít ảnh hưởng đến đời sống xã hội hơn.
Nhà sử học Lê Văn Lan.

Giáo phận Ban Mê Thuột... CÁC TRUNG TÂM HÀNH HƯƠNG

Giáo phận Ban Mê Thuột...
CÁC TRUNG TÂM HÀNH HƯƠNG
- Đồi Đức Mẹ Giang Sơn :
Đồi Đức Mẹ Giang Sơn cách Thành phố Buôn Ma Thuột 30km về phía đông nam theo QL 27 đường đi Đà Lạt. Đây là Trung Tâm Hành Hương nổi tiếng thuộc Giáo phận Banmêthuột.
Qua khỏi đèo Giang Sơn, khách hành hương sẽ thấy cánh đồng lúa bao la, bát ngát hiện ra. Thật không ngờ nơi vùng đất cao nguyên này lại có cánh đồng lúa mênh mông đến thế. Dòng Krông Ana hiền hòa uốn lượn thoắt ẩn, thoắt hiện. Hương vị trong lành hòa quyện giữa đất trời cùng làn sóng lúa dập dờn đang thì con gái. Tất cả tạo nên một vùng quê an bình, thánh thiện...
Tượng đài Đức Mẹ được linh mục Giuse Nguyễn Hữu Nghị khởi công năm 1961...
Đường từ quốc lộ lên đến tượng đài dốc đứng, rộng hơn 3m, dài khoảng 1,5km, lát đá hộc. Dọc bên đường có sẵn ghế đá để khách hành hương nghỉ chân.
...
- Đức Mẹ Thác Mơ - Phước Long :
Ngày 8.12.1960, Đức Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi đặt tượng và khánh thành Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Thác Mơ. Đài Đức Mẹ Thác Mơ cách Trung tâm Thị trấn Thác Mơ huyện Phước Long khoảng 3 km về hướng Đông, được bao quanh bởi ngọn Bà Rá hùng vĩ và dòng sông Đăk R’lấp lượn lờ uốn quanh, nay được chặn lại để trở thành đập tràn thủy điện Thác Mơ.
Từ năm 1991, Giáo phận Ban Mê Thuột tiếp nhận Hạt Phước Long, Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Thác Mơ đã bắt đầu lập lại chương trình hành hương cấp giáo phận do Đức Giám mục chủ sự vào ngày lễ trọng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm.
...
- Đồi Thánh Tâm - Giáo xứ Xã Đoài - Giáo hạt Đăk Mil :
Đồi Thánh Tâm giáo xứ Xã Đoài đến nay đã dần ổn định, từ việc xây dựng, thiết kế đến những hạng mục cần thiết cho sinh hoạt. Diện tích được mở rộng, các lối đi quanh khuôn viên đã bê tông hóa. Khung cảnh thoáng đãng, cây xanh vươn chồi, bài trí khoa học. Nói chung Đồi Thánh Tâm thật xứng đáng là điểm hành hương, không chỉ dành riêng cho xứ nhà mà còn là nơi phục vụ các nhu cầu sinh hoạt phụng vụ của giáo hạt, giáo phận. Được như hôm nay là cả công lao to lớn của cha quản xứ và cộng đoàn Dân Chúa Xã Đoài cùng các vị ân nhân gần xa. ...
...
(Trích từ nguồn http://gpbanmethuot.vn/)

Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

ĐÁM CƯỚI NHÀ QUÊ

Xin gởi vào thời gian... bài viết của thầy giáo Huỳnh Ái Tông.
ĐÁM CƯỚI NHÀ QUÊ
Nhiều khi đi dự đám cưới về, lúc đã nằm nghỉ, tôi nhớ tới những đám cưới ở quê nhà, nhớ đến những người lớn tuổi thuở xưa, nay họ đều đã khuất núi, có dịp nhớ tới những phong tục cưới gả ông bà ta đã truyền lại.
Ở nhà quê, khi có đám cưới thì những người lân cận chung quanh đến giúp, kẻ gánh nước, bửa củi, người làm gà vịt, nấu ăn, kẻ che rạp, bày bàn ghế, người chưng dọn bàn thờ, thậm chí trẻ con cũng giúp ích được một tay là nấu nước, pha trà.
Những đám cưới nhà nghèo thì làm đơn sơ, nhưng những đám cưới nhà khá giả thì che rạp rồi bắt bông tươi hay bông vải trên những cây cột, lại bắt bông cho một cái cổng, người ta dùng những cây chuối, những tàu lá dừa hay lá đủng đỉnh, làm cho cái cổng xinh tươi, cắm thêm những cành hoa điệp, hoa mồng gà, cổng chính ở giữa có khung chữ Vu Qui của nhà gái hay Tân Hôn của nhà trai.
Rạp thường che trước sân nhà, tùy theo lượng khách mời họ hàng mà người ta bày nhiều hay ít bàn, thường là bàn tròn, mỗi bàn với mười hay mười hai ghế.
Nhà gái, luôn luôn đãi ăn vào ngày hôm trước, còn nhà trai ngày hôm trước chỉ nhóm họ, tức là chỉ đãi ăn những người trong thân tộc, những người bà con ruột thịt xa gần tụ hội lại để sắp đặt công việc ngày hôm sau đi rước dâu. Khi rước dâu về, nhà trai mới đãi ăn, vừa đãi ăn nhà gái, vừa đãi ăn khách mời.
Thường vào đêm này, người ta tập cho chú rễ nghi thức lạy gia tiên và lạy ông bà cha mẹ. Lạy gia tiên tức là lạy bàn thờ ông bà thì lạy bốn lạy, còn lạy ông bà cha mẹ thân tộc còn sống chỉ lạy hai lạy. Cách lạy họ không phải chấp hai tay lại mà phải cung hai cánh tay, ngón giữa và ngón đeo nhẫn tay mặt giáp mí tay trái, tạo thành một cung tròn để xá, để lạy.
Nhà trai chuẩn bị gồm có một “Khai trầu rượu”, trong khai ấy có một cái nhạo đựng rượu với 2 hay 4 cái chun uống rượu, một đĩa gồm mấy lá trầu têm vôi sẵn, mấy miếng cau tươi, có thể đậy lên trên một miếng vãi đỏ, một “Khai hộp” là một cái khai có hai cái hộp đồng thau hình ống, có nắp, dùng để đựng nữ trang và tiền đồng, một mâm trầu, mâm nầy trong người ta để cau và trầu, cau vài chục trái, trầu vài chục lá đều là số chẵn, rồi người ta đậy kín lại, làm dấu để không ai được mở ra, chờ cho đến ba ngày sau, cô dâu và chú rễ trở về nhà cô dâu làm lễ “Dở mâm trầu”. Cho nên thường người ta dùng giấy bông cái hình búp sen, đủ lớn chụp lên trên mâm trầu, có một mâm đựng một đôi đèn sáp đỏ, có bắt bông rồng, phụng, tượng trưng cho câu chữ “Loan phụng hòa minh, sắc cầm hảo hiệp”, ngoài ra còn có những mâm rượu, mâm trà, mâm trái cây, mâm bánh mứt, toàn bộ những mâm này phải là số chẵn, tượng trưng cho vợ chồng mới cưới, đủ đôi, chẵn cập, những mâm nầy có thể để trần, có thể phủ giấy màu, có thể dùng cái quả có nắp đậy lại.
Ở nhà quê, thường người ta ăn sớm, cho nên nhà gái mời buổi chiều, có người 2, 3 giờ chiều đã tới, do đó khi khách đến ngồi đủ một bàn, người ta đãi cho khách bàn ấy ăn, có khi người ta dọn tất cả thức ăn một lượt lên bàn ăn, nhưng cũng có khi người ta đãi ăn từng món, như vậy có một người đứng đó tiếp khách để có khi thêm nước chấm, có khi thêm đĩa cơm… còn có thêm một người chạy bàn, bưng dọn ra món mới và dẹp tô, dĩa của món cũ.
Sau khi ăn xong, khách mừng cho cô dâu thường là ít tiền, xưa người ta không có để tiền vào phong bì, cho nên nhà có tiệc cưới, cử một người biên chép họ tên khách và số tiền mừng cho cô dâu vào một cuốn sổ, người này đến tận bàn ăn ghi và nhận tiền. Số tiền này, thông thường nhà gái dùng trang trải chi phí cho đám cưới.
Mấy chục năm trước, đám cưới muốn cho vui người ta dùng máy hát để hát những bộ dĩa hát như tuồng San Hậu, Quan Âm Thị Kính, Tô Ánh Nguyệt. Sau này người ta dùng tới Magnetophone, Cassette, CD và bây giờ là DVD làm cho đám cưới thêm ồn ào, nhộn nhịp.
Đám cưới nào cũng vậy, trong tiệc tùng, có rượu vào thì lời ra, người ta bàn luận về thời sự, văn chương, đạo lý trong những truyện tàu, nào là Đông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, Hán Sở Tranh Hùng, Thuyết Đường, Thủy Hử.
Các bà các cô có dịp ăn mặc lịch sự, nào là áo gấm, áo the quần lãnh mỹ a, nữ trang với những chiếc vòng chạm, cẩm thạch, dây chuyền với nhiều kiểu “mề đay”, còn hoa tai nhận hột cẩm thạch, sang trọng hơn với những hột xoàn chiếu lóng lánh.
Khu vực bếp núc thì luôn luôn đầy khói, tiếng chén bát khua nhau, tiếng dao bằm thịt trên thớt không ngớt, còn mùi thức ăn thoang thoảng bay xa.
Ở nhà gái, khi khách khứa đã về hết rồi, khoảng 9, 10 giờ đêm, người ta cử hành lễ “Lạy xuất giá“. Cô dâu đến trước bàn thờ ông bà lạy bốn lạy, kế đó lạy cha, mẹ hai lạy, sau đó theo thứ tự từ ông bà bên nội, bác, cô dượng, chú thím, anh, chị. Sau đó tới bên ngoại cũng theo thứ tự ông bà, cậu mợ, dì dượng… những người có đủ cập vợ chồng, cô dâu lạy chung 2 lạy, những người không đủ vợ chồng cũng lạy 2 lạy. Trong dịp này, những người trong thân tộc dự lễ “Lạy xuất giá” của cô dâu, đều có mừng cho cô dâu hoặc nữ trang, hoặc quà hoặc tiền. Tiền hay quà cho cô dâu để làm của mang theo về nhà chồng.
Cách lạy thì cô dâu sau khi xá rồi ngồi xuống, hai chân thu về một bên, xuôi ra phía sau, ngồi thẳng rồi chấp hai tay lại vừa xá xuống, vừa dang hai tay ra, vữa cúi đầu vừa khom lưng xuống một chút rồi cất đầu lên, thân thẳng lên, hai tay chập lại trước ngực để lạy tiếp, nếu đã lạy đủ hai hay bốn lạy thì lấy hai tay chống xuống nền nhà, đứng lên rồi xá một xá.
Thuở nhỏ, trẻ con chúng tôi thường thích coi cô dâu “Lạy xuất giá”, vì nhiều cô dâu vừa lạy vừa khóc, có lẽ nghĩ đến ngày mai là phải xa nhà, xa cha mẹ anh em, “phận gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu”. Bên chồng ở gần thì một đôi tháng còn về thăm cha mẹ, ở xa thì vài đôi năm, phận gái ngày xưa “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, nên Ca dao có câu:
Má ơi đừng gả con xa!
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?
Mấy chục năm trước, tối lạy xuất giá ấy, người ta hay hát đĩa vọng cỗ Mẹ Dạy Con do cô Tư Sạng ca, những lời mẹ dạy con trước khi về nhà chồng thật là thực tế và đầy ý nghĩa.
Ngày rước dâu, nhà trai đi tới nhà gái gồm cha mẹ chú rễ, vài cập vợ chồng người lớn tuổi, chú rễ, một rễ phụ, một số thanh niên, một số thiếu nữ đủ để bưng mâm và tổng số người đi sao cho chẵn.
Ngày xưa, đám cưới hầu hết đều mặc quốc phục, nam áo dài khăn đống, nữ áo dài. Nhà giàu chú rễ mặc áo gấm xanh bông bạc, hoặc mặc áo “thụng” là áo dài có tay rộng hơn, nhà nghèo thì cũng áo dài đen. Khăn đống gồm có bảy vòng, tượng trưng cho “thất phu”, dưới bảy vòng đó có chữ “Nhân” ( 人) là người đã trưởng thành.
Khi đến nhà gái, Rễ phụ bưng mâm trầu rượu vào đặt ở chỗ bàn có những người lớn tuổi ngồi, rót rượu ra chun, xong rồi mời rượu những bậc “trên trước” để trình là nhà trai đã tới, xin cho phép vào làm lễ “Rước dâu”. Nếu nhà gái thấy đủ phép, nói với Rễ phụ mời nhà trai vào, có nơi nhà gái ra cổng mời nhà trai vào.
Khi nhà trai vào, đi trước là Rễ phụ với khai trầu rượu, kế đến là chủ hôn, chủ hôn có thể là cha mẹ hay trưởng tộc hoặc một người trong thân tộc, vợ chồng đầy đủ, nói năng hoạt bát, sau chủ hôn là chú rễ, sau chú rễ là những người bưng các mâm lễ vật, sau đó là những người đi rước dâu. Vào nhà, những mâm lễ vật để trước bàn thờ, nhà gái sẽ mời nhà trai ngồi vào những vị trí riêng biệt, nhất là hai bên suôi gia sẽ ngồi đối diện nhau. Chú rễ và rễ phụ sẽ đứng gần bàn thờ, và khi mọi người ổn định chỗ ngồi xong, rễ phụ sẽ rót rượu ra – Khi rót rượu không bao giờ rót đầy, vì có người uống, có người chỉ nhấp mép một chút cho phải phép, nhưng dù chun rượu còn hay không, người rễ phụ cũng rót một chút rượu mới – Người chủ hôn nhà trai xin phép chủ hôn nhà gái để tiến hành cuộc lễ, trước tiên trình lễ vật là đôi đèn cầy, mâm trầu cau, rượu, trà, bánh mứt, trái cây sau đó là trình nữ trang và số tiền đồng, là số tiền nhà trai phụ cho nhà gái làm lề Vu quy.
Khi nhà gái đã đồng ý chấp nhận lễ vật rồi, cha mẹ cô dâu gọi cô dâu ra chào họ nhà trai. Cô dâu mặc áo dài màu, con nhà khá giả còn mặc thêm áo kép ở ngoài, áo kép cũng là áo dài may rộng hơn một chút và có tay rộng bằng ren, để có thể nhìn thấy áo dài mặc bên trong, trang điểm với những nữ trang nhà trai đã nộp “Sính lễ” lúc đám hỏi.
Tưởng cũng nên nói thêm, khi “Đám hỏi”, nhất thiết nhà gái nào cũng đòi nhà trai phải nộp sính lễ một đôi “hoa tai”, còn gọi là “đôi bông” bởi vì ngày xưa, người ta quan niệm người con gái như một cái hoa, nên nhà trai phải trao cái hoa tai ấy, như một lời ngợi ca đức hạnh và dung nhan cô gái, trong Ca dao có câu:
Gió đưa, gió đẩy bông trang,
Bông búp về nàng, bông nở về anh.
Người con gái chưa chồng như hoa còn búp, khi có chồng rồi như cái hoa nở. Vì lý do gì, vợ chồng phải xa nhau, thường nhà trai đòi lại đôi hoa tai, để chàng trai đi cưới vợ khác, về vấn đề này, Ca dao có câu:
Một mai thiếp có xa chàng,
Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.
Trước khi đám cưới, nhà gái đòi tiền đồng và có thể đòi thêm nữ trang cho cô dâu, thường khi không đòi thêm nữ trang, nhưng đàng trai cũng cho thêm nữ trang. Nên trước khi làm lễ gia tiên, mẹ cô dâu hoặc nhà gái chọn một người đàn bà đeo nữ trang nhà trai vừa mới cho thêm cô dâu, người đàn bà này vợ chồng phải đủ đôi, có nhiều đức tính tốt, gia đình hạnh phúc, để cho cô dâu nương nhờ đức hạnh ấy mà tạo dựng hạnh phúc cho gia đình mình.
Sau khi đeo nữ trang xong, cô dâu đứng lại gần chú rễ, một cập tân hôn, tân lang mặc áo thụng khăn đóng, cô gái mặc ái dài kép trông đẹp biết bao, và rồi nhà gái sẽ “lên đèn”, người ta chọn một người có đạo đức, vợ chồng hạnh phúc, con cái ngoan ngoản, người này sẽ đốt hai cây đèn do nhà trai mang tới, người ta thường cầm cập đèn để tim chúng chập lại rồi đưa vào ngọn đèn khác để đốt, người ta thường kiêng cử khi đốt đèn ngọn cháy ngọn không, hoặc cháy một chút rồi tắt, sau khi lên đèn xong, cha mẹ cô dâu hay trưởng tộc sẽ dâng hương lên bàn thờ, sau đó cô dâu và chú rễ lạy bàn thờ bốn lạy, chú rễ lạy phải cung tay, “lên gối, xuống gối”, cô dâu phải lạy thế ngồi “xếp chè he”.
Lạy gia tiên xong, rễ phụ rót rượu ra khai trầu rượu, để chú rễ và cô dâu cung kính dâng mời cha mẹ cô dâu uống rồi mới làm lễ lạy cha mẹ hai lạy, lễ này mang ý nghĩa đền ơn dưỡng dục. Sau đó lạy họ, từ ông bà, chú bác, cô dì dượng, cho đến các anh, chị những lạy này mang ý nghĩ lễ ra mắt của cập vợ chồng mới, nhất là chú rễ chịu sự tôn kính những người trong thân tộc họ nhà gái. Trước khi làm lễ lạy ai, cô dâu và chú rễ đều phải dâng rượu mời người đó uống trước khi làm lễ.
Sau khi lạy họ xong, cô dâu và chú rễ có thể vào phòng nghỉ, chờ hai họ ăn bánh, uống trà, chuẩn bị rước dâu.
Nhà gái sẽ mang tất cả những mâm rượu trà bánh mứt vào trong, lấy mỗi thứ một phần kiếng lại cho nhà trai, gọi là “Lại quả” hay “Lợi quả”.
Trước khi rước dâu, rễ phụ rót rượu để ông chủ hôn nhà trai, trình với chủ hôn nhà gái xin rước dâu. Cô dâu và chú rễ ra trước bàn thờ lạy bốn lạy rồi mới đi. Những người họ nhà trai là những người rước dâu sẽ ra khỏi nhà gái trước với cô dâu. Cô dâu thường mang theo một cái quả, trong đó đựng nữ trang, tiền bạc và đôi khi có ít bánh để phòng khi lạ chỗ lạ nhà, lúc đói bụng có mà ăn. Những người họ nhà gái là những người đưa dâu sẽ đi theo sau, có những cô thiếu nữ mang giúp cho cô dâu mùng, mền, cập gối những bộ quần áo mới, là những thứ chánh yếu mà cô dâu sắm sẵn mang về nhà chồng.
Khi rước dâu về đến nhà trai, sau khi hai họ đã an vị, người ta lại lên đèn ở nhà trai, để chú rễ và cô dâu “Lạy họ nhà trai”, trước tiên lễ gia tiên, kế đó rễ phụ rót rượu để chú rễ và cô dâu mời cha mẹ chú rễ uống rượu trước khi làm lễ lạy hai lạy, kế đó ông bà nội, ngoại, chú bác cô dì, anh chị ruột mỗi người đều được mời rượu trước khi làm lễ, lễ này mang ý nghĩa cô dâu nhận phận làm dâu và ra mắt họ nhà trai. Những người trong thân tộc sẽ mừng cho cô dâu và chú rễ tiền bạc hay quà.
Sau khi lạy họ xong, chú rễ và cô dâu sẽ tiếp người nhà đãi khách, và cho đến lúc tiệc tàn sẽ tiễn đưa nhà gái về. Mọi người đều bịn rịn chia tay, cô dâu khó cầm được nước mắt khi tiễn những người thân ra về.
Ba ngày sau, là ngày “Phản bái”, cô dâu và chú rễ trở về nhà cô dâu, để “Dở mâm trầu”, thường cô dâu và chú rễ mang theo một cập vịt, để làm thức ăn bày biện cúng ông bà. Trước khi cúng, cô dâu và chú rễ sẽ vào phòng, chỉ có cập vợ chồng mới, dở mâm trầu ra, lấy trầu, cau để vào dĩa rồi mang ra bàn thờ cúng. người ta kỵ mâm trầu có người dở ra nhìn, hoặc khi hai vợ chồng dở mâm trầu ra có người nhìn thấy, họ sẽ dị nghị: “người vợ sẽ cầm quyền”, nếu cô dâu lấy trầu hay cau trước, hoặc chồng sẽ cầm quyền, nếu chàng rễ lấy trước. Đôi khi vì đường xá xa xôi, vì mùa màng cấp bách hay vì lý do nào đó, trước rước dâu, nhà trai có thể xin nhà gái cho “Dở mâm trầu” ngay trong ngày cưới.
Phong tục Phản bái rất hữu ích, bởi vì trong những ngày đầu, cô dâu mới gặp nhiều chuyện khó khăn trong đạo dâu con, vợ chồng, ở bên nhà chồng không dám than thở cùng ai, về lại nhà mình sẽ được tâm sự cùng mẹ hay chị em, họ sẽ giúp ý kiến, khuyến khích tinh thần, an ủi thân đơn, cảnh lạ. Nhưng những cấm kỵ chung quanh “mâm trầu”, trở thành dị đoan. Ngày nay, chú rễ và cô dâu tìm hiểu, quen biết nhau, mâm trầu trở nên thừa và dần dần đi vào quên lãng, hay tại vì nhiều người bỏ ăn trầu, mâm trầu không người ăn, nên người ta giảm bớt đi cho đỡ tốn kém.
Ngày nay tục lạy bàn thờ ông bà người ta vẫn giữ nhưng lạy người sống kể cả cha mẹ, hầu hết được miễn, chú rễ và cô dâu chỉ xá những người phải làm lễ mà thôi.
Nhớ tới đám cưới ở quê nhà, những khi giúp nấu nước, pha trà, che rạp, dọn bàn, khi làm rễ phụ cẩn thận bưng khai trầu rượu, cung kính rót rượu, mời bậc trưởng thượng nhấp chung rượu lễ, để khép nép thưa trình … cũng là cái nhớ, góp thêm vào lòng nhớ cố hương.
Huỳnh Ái Tông

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017

Lên non mới biết non cao... CHA TÔI, NGƯỜI LÍNH CŨ

Lên non mới biết non cao...
CHA TÔI, NGƯỜI LÍNH CŨ
Cha tôi là một sĩ quan quân lực VNCH, cấp bậc Trung úy. Ông có may mắn hơn nhiều bạn bè, khi chỉ phải đi tù cải tạo một thời gian ngắn. Năm 1979 cha tôi ra tù và về sống ở Sài Gòn, một năm sau tôi sinh ra.
Từ khi tôi biết nhận thức thế giới xung quanh cho tới năm 18 tuổi, cha và mẹ không bao giờ nói với tôi bất cứ điều gì có liên quan đến chính trị hay nói xấu chế độ mới, cha tôi sống hiền lành, nhẫn nhục nuôi con cái, hòa đồng với tổ dân phố. Cha ghét chiến tranh và không bao giờ nhắc đến thời chiến đấu xa xưa của mình, đến mức không cho tôi chơi những món đồ chơi như súng, máy bay. Mẹ tôi thì cấm tôi nghe nhạc vàng hay những bài ca về lính, dù vậy sau này tôi vẫn lén nghe. Họ để cho tôi tự do lựa chọn con đường mình đi, ngay cả tôn giáo...
Với tính cách giang hồ lãng tử của cha tôi, trước 30-4 ông vốn đã không coi trọng tiền bạc, không nhà cửa, tiền vàng, chỉ có 2 bàn tay, chiếc xe máy cùng người vợ hiền nên sau 30-4 ông không mất gì cả về vật chất. Tuy nhiên, nỗi mất mát về tinh thần ám ảnh ông suốt đời như một vết thương không bao giờ lành được.
Nhà tôi rất nghèo, lại phải chịu bất công từ mọi phía, mẹ tôi bị ép phải nghỉ sớm do lý lịch của cha, bà phải đi buôn thuốc men, thực phẩm để nuôi tôi lớn. Lúc tôi 3-4 tuổi cha tôi đi làm vắng nhà cả ngày, ông làm đủ thứ nghề, buôn bán hàng phế liệu, đạp xích lô, đến tối mịt mới về nhà. Ngày nghỉ ông chở tôi lang thang trên các con đường ở Sài Gòn bằng chiếc xe đạp. Đường phố Sài Gòn thập niên 80 còn hoang vắng, tôi để ý một điều là ông luôn gọi những con đường bằng tên cũ, chỉ cho tôi những tòa nhà và tên gọi của chúng, nhiều khi tôi thấy ông dừng rất lâu ở một nơi nào đó và khóc.
Lớn lên một chút, ông luôn tìm cách hướng tôi về những điều chân thiện mỹ, thay vì phó mặc cho ... trường lớp, đội nhóm. Tôi còn nhớ ông mua sách báo cũ thời VNCH cho tôi đọc, nhất là Thiếu Nhi tuần báo. Ngày tôi được kết nạp đội, cha tôi ôm tôi vào lòng và ông rất buồn, nhưng ông dắt tôi đi xem phim Batman và đêm đó trước khi ngủ kể cho tôi nghe ông đã phải đi bộ hơn 5 cây số để mua sữa cho tôi uống như thế nào.
...
Cuộc đời tôi đã trải nghiệm không biết bao nhiêu sự ưu đãi, giúp đỡ từ bạn bè của cha tôi, hay thậm chí những người xa lạ, mỗi khi họ tình cờ biết cha tôi từng là Sĩ quan quân lực VNCH, một người thầy nổi danh đã nhận tôi vào lớp luyện thi đại học và miễn học phí, vì tôi là con của lính VNCH, nhiều bác sĩ đã chữa bệnh cho tôi hồi nhỏ không nhận thù lao khi biết cha tôi từng đi lính, một linh mục tại nhà thờ Dòng chúa cứu thế dạy kèm tiếng anh và tiếng Pháp cho tôi suốt 3 năm mà không lấy tiền.
...
Trích theo " Chúng Tôi Muốn Sống" của Huỳnh Kỳ Anh Tú đăng trênhttp://hon-viet.co.uk/)

XE LỬA Ở QUÊ TÔI

Nào mời anh lên tàu lửa chúng mình đi, đi đi khắp nơi ...
XE LỬA Ở QUÊ TÔI
...
Tôi không biết Ga xe lửa Ninh Hòa được khánh thành từ năm nào, chỉ biết các ga và tuyến đường rầy đều do người Pháp xây.
Thuở ấy xe lửa chạy bằng đầu máy hơi nước. Sợ hãi nhưng thích thú nhìn đoàn tàu tới gần với đầu máy nặng nề tỏa khói đen sì là một cảm giác khó quên của bọn trẻ nhà quê chúng tôi thời đó. Tiếng bánh xe nghiến ầm ỉ trên đường rầy , tiếng còi tàu lanh lãnh cũng thật kỳ vĩ.
Ga Ninh Hòa là một trong những nhà ga hiếm hoi còn nguyên vẹn sau chiến tranh và có cảnh quan vô cùng ấn tượng..
Ga có vị trí thoáng mát với bốn bề núi non, ruộng đồng xanh ngát.Đứng trên sân ga chúng ta có thể nhìn thấy một kiến trúc uy nghi và có dáng dấp của một ngôi nhà kiểu đền đài Hy Lạp, thực ra nó là đề pô , nơi sửa chửa đầu máy. Cái bồn nước trên cao để tiếp nước vào nồi súp de cũng thật lạ mắt và còn cả một cái lô cốt chắc là nơi ngày trước quân đội Pháp canh gát cho an ninh của ga…
Chiếc cầu dành riêng cho xe lửa bắt qua sông Dinh cũng rất quen thuộc với người dân Ninh Hòa mặc dù hình ảnh con tàu ầm ầm vượt qua cây cầu bằng sắt thật tương phản với phong cảnh êm đềm hai bên bờ sông .
Nói đến chuyện đi xe lửa , thú vị nhất là được chui qua hầm.
Tối thui, ngộp thở, kinh hoàng vì tiếng bánh xe nghiến trên đường rầy bất ngờ nghe như tiếng núi lở , nhưng cũng thật ngây ngất.
Rồi bóng tối nhạt dần báo hiệu …hết hầm. Không khí mát rượi tha hồ tràn đầy buồng phổi, ánh sáng chói chang làm lóa mắt và dù mặt mũi có thể dính đầy bụi than bọn trẻ con vẫn chờ đợi nhất được hưởng giây phút xe lửa chui qua hầm.
.
Thập niên 50 , cuộc sống không nhiều biến động và người nông dân ít có lý do di chuyển. Ga xe lửa luôn vắng vẻ với năm ba người khách mỗi lần tàu vào ga.
Cuối tuần, tàu nhiều khách hơn nhưng những vị khách ấy cũng chỉ là đám học trò đi học ở Nha Trang về thăm nhà và hầu hết là khách đi cọp!
Dầu sao truyền thống của một ngành hỏa xa văn minh cũng còn lưu dấu trên bộ đồng phục của sếp ga, của nhân viên soát vé, của người gác ghi với lá cờ hoặc chiếc đèn có mặt kính nhiều màu mà ông ta cầm lắc lư báo hiệu cho tàu ra vào ga trong đêm tối.
Từ năm 1964 hệ thống hỏa xa miền Nam ngưng hoạt động. Đường rầy ở nhiều nơi bị phá dở, xe lửa bị đặt mìn. Từ Nha Trang muốn đi Saigon phải đi bằng máy bay vì không ai dám đi xe đò qua Rừng Lá. . Từ Tuy Hòa vào Nha Trang chỉ có thể đi bằng ghe bầu.
Sau năm 1975 ngành hỏa xa được tái thiết và được gọi là Đường Sắt Việt Nam. Không còn dáng vẻ văn minh năm nào, đường Sắt Việt Nam đã trở thành một phương tiện giao thông xô bồ chưa bao giờ có và sẽ không bao giờ lập lại. Xe lửa đã trở thành phương tiện để người ta bấu víu vào kiếm sống .
Những năm ấy , những chiếc xe đò cũ kỷ lại càng thêm kỳ dị khi phải gắn một thiết bị phía sau để chạy bằng than. Giá tiền đi xe đò lại đắt nên người ta ùn ùn rủ nhau đi buôn bằng xe lửa.
Đường sắt trở nên quá tải và chen được một chân lên xe lửa là một kỳ công .
Đường cát trắng hồi đó biến mất và người dân quê tôi theo xe lửa ra tận La Hai để buôn loại đường vàng làm từ mật mía , cô lại thành bánh. Người đi củi cũng biến gon xe lửa thành xe chở củi. Xe lửa không dừng lâu nên ng, cứ quăng bừa các thân củi vào cửa sổ toa xe.. Rồi hàng chục bao gạo, bao bắp, bao khoai mì tiếp tục được nhồi nhét , rồi cá khô, mắm muối, đậu mè từng bao tới tấp quăng lên mặc cho những tiếng chửi rủa náo động cả toa tàu. Khi tàu chuyển bánh, hàng chục người vẫn thản nhiên chạy nhảy …trên mui xe để di chuyển từ toa này sang toa khác. Đã có mấy em bé bán nước trà đá đã rơi xuống đường rầy khi tàu chuyển bánh. Và không ít dân nghèo đã mất mạng vì không tiền mua vé phải nhảy tàu khi tàu đã tăng tốc.
Nhớ lại những ngày khốn khổ ấy mà thương cho người dân của thời hòa bình thống nhất. Ngày nay ga Ninh Hòa không còn hổn loạn như thế nữa. Sân ga , nhà ga được tu sửa sạch sẽ hơn và đầu máy hơi nước đã được thay bằng dầu máy diesel. Tuy nhiên khách nước ngoài đến Việt Nam rất ngạc nhiên vì hàng trăm năm rồi sao Việt Nam vẫn còn sử dụng đường ray có chiều ngang 1 mét.
Riêng tôi, tôi rất sợ một ngày nào những đường tàu cũ kỹ ấy biến mất.
Và tôi sẽ không còn được bồi hồi ngắm nhìn những đường tàu trăm năm chạy song song rồi giao nhau ở đầu sân ga như lời nhắc nhở cho con tàu rằng bạn đã về tới bến.
HUYỀN CHIÊU
(Trích đoạn " Xe Lửa Ở Quê Tôi" của Huyền Chiêu đăng trênhttps://tuongtri.com/)