Giới thiệu bản thân

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Bữa cơm ấm áp yêu thương trong gia đình ngày xưa...

Bữa cơm ấm áp yêu thương trong gia đình ngày xưa...
BỮA CƠM NGON
Lứa tuổi Thầy, khi còn tiểu học, khoảng 1952, 1953, được tập đọc và học thuộc lòng bài thơ này, ý vị lắm, cảm xúc lắm, nếu ai cùng cảnh ngộ. Giờ đây, bài đó chưa hẳn đã gây cảm xúc với những trẻ nhỏ đã rời Việt Nam quá sớm, hoặc sinh ra ở đây. Nhân thể Thầy gởi đến các em bài thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
Bữa cơm ngon
Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa,
Mắt trông con đứa đứa về dần,
Xa xa con đã tới gần,
Các con về đủ quây quần bữa ăn,
Cơm dưa muối khó khăn mới có
Của không ngon, nhà khó cũng ngon.
Khi vui câu chuyện thêm dòn
Chồng chồng vợ vợ con con một nhà.
Đọc bài thơ này, các em thì sao chứ Thầy thấm thía lắm, thưở nhỏ đi học ở Việt Nam, rất ít người đủ ăn, những bữa cơm đạm bạc song đầy ấp tinh thương yêu vợ, chồng, cha, con. Bữa ăn chẳng có rượu bia đâu mà quanh mâm cơm câu chuyện dòn tan như vậy.
...
(Trích thư của thầy giáo gởi các học trò trường Tỉnh Hạt Thuận An-http://thuanan.net/)
Nhà thơ Tản Đà khi luận về “ăn ngon” đã cho rằng “người cùng ăn” và “chỗ ăn” là hai trong bốn điều kiện cần thiết để một bữa ăn được cho là ngon: “Đồ ăn ngon mà người cùng ăn không ngon thi cũng không ngon”!
...
Tản Đà đã chiêm nghiệm về cái tình “người cùng chia sẻ bữa ăn” và không gian đầm ấm thân mật của bữa ăn ngon, “chỗ ngồi cũng phải ngon ăn mới ngon”.
Có thể nói, hai yếu tố quan trọng này đến từ kinh nghiệm ban sơ về những bữa ăn chung trong gia đình, trong sự yêu thương che chở của cha mẹ, trong không khí thân thương khi mọi người quây quần chung quanh mâm cơm, cùng chia nhau chén cơm con cá với anh chị em, dưới mái nhà thường vang tiếng cười thanh xuân hay tiếng khóc sơ sinh. Những kỷ niệm “ăn chung” trong gia đình hay đại gia đình, dù bữa cơm đạm bạc với nước mắm kho hay cầu kỳ với cao lương mỹ vị, cùng nhau chan chung bát canh, cùng nhau chấm chung chén nước mắm hay nước chấm do mẹ pha, là những kỷ niệm để đời, khó quên.
Cho nên rốt cùng điều mà ta nhớ nhất khi xa nhà, lang thang trên đất khách, khi trưa đến hay chiều về, dạ dày cồn cào, thì không ai khác hơn nó, chính cái dạ dày bắt nhớ - dù ta không muốn nhớ - đến con cá bống thệ kho khô, bát canh rau bồng tơi bồng ngọt, vị gạo thơm dẻo trên đầu lưỡi của mẹ đã cho ăn ngày trước. Hình ảnh “khói lam chiều” trên mái tranh, bếp lửa vùi rơm trở nên biểu tượng hạnh phúc gia đình trong thi ca, nhưng nỗi nhớ quặn về chính từ khúc ruột, từ đáy lòng ấy.
Ai đi xa cũng phải nhận là nhớ nhà đi liền với thèm nhớ những món ăn mẹ nấu cho cả gia đình. Sự gắn bó yêu thương với người thân, với gia đình bắt đầu bằng những điều thật là cụ thể như thế của năm giác quan: vị mặn, cay, đắng, chát, ngọt ngào của thức ăn, chúng có sức giữ cho bộ nhớ giác quan linh động và có thể trở về sống động trong những lúc con người cô đơn hay thiếu thốn, chúng trào dâng trên chót lưỡi một thứ hoài niệm đầy ứ vật chất và tinh thần. Chúng là chứng tích nguyên ủy nhất của tình thương.
Con người một khi đã nếm những vị của tình thương vừa thực tế vừa bao dung của mẹ cha, thì đi đâu cũng không thể quên được cội nguồn. Bữa cơm gia đình còn cho ta nhiều hơn những lần chim mẹ mớm mồi cho chim con. Trên chiếc chiếu hoa, mâm cơm ở giữa hay trên chõng tre, trên bộ ván ngựa bằng gỗ hay quanh bàn ăn, không gian ấy là “cái tổ” của sự đùm bọc, nó có giá trị về tính hợp quần nhân bản như “chim có đàn cùng hót tiếng hót mới hay, ngựa có ngựa cùng đua nước đua mới mạnh”. Nó là thứ tình gắn bó với mái nhà gia tộc.
(Trích trong "Bữa cơm chung trong gia đình" của Mai Lan Lệ Án đăng trênhttp://tuoitre.vn/)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét