Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

CÓ MỘT CHỐN QUÊ *Hùng Bi

 Xứ Thượng

Đường Bà Triệu rực cam giàn hoa pháo
Ngõ nhà ai thoáng bước dạo tiên sa
Ngôi trường xưa trong đôi mắt nhạt nhòa... (Khi Người Đến- Thơ Sao..)
CÓ MỘT CHỐN QUÊ
*Hùng Bi
Người ta thường nghĩ, chốn quê là nơi của ông bà tổ tiên mình đã sống qua bao đời nay với tình cảm rất gắn bó. Có người lại nói phải là nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đối với những người con xa, người ta gọi đó là quê hương.
Trong dòng chảy của cuộc sống, cũng có những người được sinh ra ở một nơi, nhưng cả đời đã phải bôn ba nơi đất người rồi cuối cùng xuôi tay nằm lại nơi đó. Nhưng khi có ai hỏi quê bạn ở đâu, hầu như tất cả đều nói tới nơi mình đã được sinh ra. Điều đó cũng đúng thôi!
Nhưng lại cũng có câu: Xin nhận nơi này làm quê hương! Rất khẳng định và không có con số hai đàng sau.
Riêng tôi lại nghĩ, con người ta sinh ra và lớn lên, đến một độ tuổi nhận thức được mọi việc chung quanh mình thì đoạn trước sống rất vô tư và hầu như những kỷ niệm đều mơ hồ không rõ ràng và ít người nhớ được.
Bắt đầu đến tuổi được tới trường, nhận thức bắt đầu được khơi mở sẽ ghi nhận được những gì xảy ra chung quanh. Tâm hồn con người và những trang vở mới bắt đầu ghi lên những nét bút đầu tiên, tuy còn vụng về nhưng nó dần dần hình thành một con người về tính cách cũng như về nhận thức. Những nét viết ấy khắc sâu vào tâm não và tồn tại suốt một đời người không thể nào quên và chẳng ai có thể bôi xoá được nó. Không phải vô cớ mà người ta buộc một đứa trẻ phải đến trường trong độ tuổi đó.
Và có ai nhận mảnh đất mình lớn lên trong thời kỳ ấy là quê hương của họ cũng không có gì sai. Banmêthuột là chốn quê của tôi trong trường hợp trên.
Miền đất Banmêthuột là một vùng rừng thiêng nước độc, miền đất của những người thượng đầy bùa chú, là nơi đày ải những tù nhân phạm trọng tội trong những hội kín chống lại nhà nước Phú-lang-sa, ra đi là không có ngày về. Là một nơi ghê gớm trong con mắt những người miền xuôi khi họ rỉ tai thì thầm với nhau về nó.
Chính vì vậy khi Ba tôi đi làm việc ở trên đó, Bà Nội ngày đêm thấp thỏm lo âu cho thằng con trai độc nhất. Đêm nào những nén nhang trước bàn thiên và trên bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ cũng sáng trưng trong lời van vái thì thầm của Nội chớ không cứ gì ngày rằm mùng một mỗi tháng.
Nhưng ở đời, chuyện gì đến cũng phải đến. Hết bậc tiểu học, những đứa cháu nội của bà cũng lần lượt...bỏ xứ mà đi để học tiếp lên bậc trung học.
Úi chà! Bà Nội lại phải tốn tiền mua nhang nhiều hơn và danh sách cầu an lại được cộng dần thêm.
Banmêthuột đón tôi vào một ngày đầu thu năm 1960. Lẽ ra đối với một đứa trẻ, lần đầu tiên được đến một vùng đất mới hoàn toàn xa lạ phải gây trong lòng một niềm háo hức vì những khám phá mới mẻ mình sắp được nếm trải, nhưng không hiểu sao bầu trời nơi đó lại để trong mắt tôi một vẻ bàng bạc u buồn.
Mãi đến nhiều năm sau nầy khi đã đủ trưởng thành tôi mới hiểu thấu, nó đã lưu lại trong tâm hồn tôi quá nhiều những kỷ niệm đẹp đẽ của tuổi mới lớn và tôi không thể nào tìm lại chúng được.
Không biết tôi có nghĩ quá lên không? Sao mà chúng cứ làm lòng tôi xôn xao, thổn thức khi nhớ về chúng nhiều đến thế?
Vẫn còn đang là mùa mưa nên lề đường Thống Nhất, cửa ngõ vào thị xã hai bên vỉa hè vẫn nhơ nhớp một màu bùn đỏ quạch, kể cả những gốc cổ thụ hai bên đường và dọc tường rào biệt điện trông bẩn thỉu, buồn hiu nhìn đến...não lòng! Chỉ có những chùm hoa phượng vỹ nở muộn cuối mùa còn sót lại trên đường Nguyễn Du nở những nụ cười đỏ rực như lửa là mang sức sống sinh động chào đón tôi trong màu trời chiều.
Mà sao trên Banmêthuột lúc đó người ta chỉ trồng những cây phượng vỹ dọc theo đường Nguyễn Du và quanh sân vận động nhỉ? Có ai trả lời được không?
Chắc là không đâu, vì lúc ấy chúng đã là những cây phượng cổ thụ rồi.
Banmêthuột chỉ là một cái thị xã nhỏ xíu được đặt trên một đỉnh đồi lớn. Chỗ đất bằng phẳng nhất đã bị Công sứ Pháp chiếm chỗ xây dinh thự cho mình, sau đó “ông con trời” Bảo Đại làm nơi nghỉ ngơi khi lên vùng cao nguyên chơi trò săn bắn với một vòng tường xây kín chung quanh bao bọc lại một khuôn viên bao la bát ngát.
Có một khoảng đất trống cỏ cây xanh tốt được gọi là công viên. Nó toạ lạc trước sân Biệt điện, theo đường vòng chung quanh chạy qua bệnh viện tỉnh rồi Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, rồi Toà Đại Biểu Chính phủ Cao nguyên Trung phần, giáp với đường Thống Nhất của ngõ vào thị xã là xong. Sau nầy nó chiếm thêm khoảng đất rộng trước khu Nicolas nữa. Đó là một cái công viên tào lao nhất quả đất! Chả được trồng tỉa chăm sóc cây cảnh đàng hoàng để được gọi là một cái công viên đúng nghĩa.
Ba bề bốn phía của thị xã là những con dốc đứng dẫn xuống những con suối. Bắt đầu là cầu Ea-Tam của cổng số 1, bên phải là suối Maury, trại Hưng Đạo với cái piscine độc nhất vô nhị trên thế giới, dẫn dài về phía thượng nguồn là thác nhà đèn. Lần lên phía bắc được một mảnh đất tương đối bằng phẳng với một con dốc dài gần 3 cây số có phi trường L19 nguyên thuỷ là phi trường riêng của đồn điền CHPI của người Pháp. Vòng tiếp tục là suối Bà Hoàng rồi suối Đốc Học.
Những con phố theo chiều ngang thị xã đều là những con dốc ngắn.
Thủa ấy, không phải tất cả các con đường trong thị xã đều được tráng nhựa sạch sẽ. Chỉ những con đường chính ở trong nội ô thôi, những ô phố ngoại vi vẫn còn đất đỏ có trải đá xanh, lầy lội khi mùa mưa đến và mùa nắng thì quả là xứng với cái tên Bụi mù trời.
Tóm lại, cái thị xã nhỏ xíu hồi ấy được bao quanh bằng những con suối. Bên kia suối đã là rừng đại ngàn, vả lại đa số người kinh sống ở đó là gia đình quân nhân công chức. Họ phải chịu sự điều động của chính phủ và quân đội khi có nhu cầu nên vẫn mang một tâm thức sống tạm, ít ai nghĩ tới việc cắm rễ lâu dài ở vùng đất ấy.
Vậy mà cũng có nhiều gia đình đã trải qua mấy thế hệ ở đó và bây giờ hầu như...ai cũng giàu!
An cư lạc nghiệp mà.
Thuở ấy, người sống trong thị xã còn ít, xe cộ không nhiều. Toàn những con phố ngắn nên đi bộ chẳng mấy chốc đã giáp vòng. Rừng đại ngàn vẫn còn sát quanh rìa phố nên mùa đông về lạnh lắm! Nhất là đối với những người từ vùng đồng bằng mới đến chưa quen thung thổ.
Mùa đông năm ấy quả là tôi đã phải giáp mặt với cái lạnh cắt da nhớ mãi. Tuy đang độ tuổi ăn tuổi ngủ, nhưng quả tình mỗi đêm tôi khổ sở chống đỡ với cái lạnh từ trong ruột nên chẳng ngủ được bao nhiêu.
Không khí ngày tết chẳng mang lại cho tôi nhiều niềm phấn khích vì nó không giống mấy với vùng đồng bằng. Chẳng có hoa mai hoa cúc hoa vạn thọ, chỉ có những tràng pháo tết nổ rộn ràng từ giao thừa ở những tiệm tạp hoá của người Hoa như Cẩm Ký, Tường Hưng, Sang Thái trên đường Ama Trang Long là còn khơi gợi chút niềm hào hứng trẻ con trong tôi. Lại còn mấy sòng bầu cua cá cọp trải trên lề đường gần tiệm bán bazar Lâm Hiệp Thành nằm ngay ngã tư Ama Trang Long-Y Jut cũng vui. Cái khoái nhất là rạp chiếu bóng Lodo trên đường Quang Trung có chiếu những xuất ban ngày trong mấy ngày tết kéo dài đến hết mùng 5. Có 3 phim luân phiên nhau chiếu. Đây là chỗ tôi tốn tiền nhiều nhất trong số tiền được lì xì. Coi phim xong thì ra lề đường Y-Jut ăn chè đậu đỏ bánh lọt, sâm bổ lượng...ở cái xe chè “quành tráng” bán đủ loại chè của người Hoa. Hoặc nếu được đi với Ba thì vô tiệm nước Mỹ Hương xế cửa rạp Lodo ăn hủ tíu, xong rồi lên tiệm chè Tân Ka hay Tường Hải trên đường Quang Trung “vi vu” với ly chè lạnh.
Banmêthuột lúc đó chỉ có hai rạp hát. Rạp Tường Hiệp chuyên chiếu phim ca vũ nhạc Ấn Độ như phim Sữa rừng thay sữa mẹ hoặc cho mấy gánh cải lương hoặc kịch Kim Cương từ Sài gòn đi lưu diễn miền trung mướn hát. Còn tinh hoa của nền điện ảnh thế giới dồn hết vào rạp Lodo. Chính ở đó là cái nôi để tôi nuôi dưỡng những giấc mơ hoang đường của mình. Khi thì muốn hoá thân thành một chàng cao bồi cỡi ngựa như gió, rút súng nhanh như điện xẹt. Khi thì thành một ngôi sao ca nhạc, thành một gã gangster, thành một tay du đãng cỡi xe mô tô chạy như bay, đánh lộn thì gan dạ ...cò can, thành một kiếm khách nói tiếng tàu đánh gươm loang loáng dưới ánh trăng, thành một gã tình si bóng bẩy ve vãn những cô nàng xinh như mộng...
Nhưng ở rạp Lodo cũng đã trình chiếu một phim thần thoại Ấn Độ rất hay trên cả tuyệt vời: Trộm mắt Phật hay còn có tên Tên trộm thành Bagda. Ai mà còn nhớ được phim nầy cũng thuộc hàng...siêu nhớ!
Mấy tiệm bida trên đường Lý Thường Kiệt cứ như có bùa, đi ngang mà không ghé vô thì thấy bứt rứt. Có tiền thì chơi vài cơ, không tiền thì đứng coi người khác chơi...để học hỏi. Riêng tiệm bida Thanh Nam nằm kế bên tiệm bán cà phê hột và cà phê xay Hùng Thái lại có đặt hai cái bàn banh. Đó là nơi bọn chúng tôi xả hết cái hào khí trong người ra để la hét.
Còn một chỗ đặc biệt nầy nữa. Đó là tiệm thuốc bắc nằm gần góc ngã tư Quang Trung-Y Jut. Luôn luôn có một bình rượu thuốc to đùng để phía trước. Mùa lạnh, tôi với đám Nguyễn Ty, Sơn “xía”, Lê Minh Thuận, Nguyễn Minh...sau khi đi lòng vòng thấy lạnh run bèn ghé vô mỗi thằng làm một ly xây chừng rượu thuốc giá hai đồng bạc cho nóng người rồi lại...lòng vòng tiếp.
Nếu không nhắc tới những chỗ để bọn nhóc chúng tôi vẫy vùng ở đất Banmêthuột thì quả là một thiếu sót lớn: Piscine, suối Maury, Thác nhà đèn, Hồ Trung Tâm. Những chỗ nầy thì tôi cũng đã có viết về chúng rồi.
Cao nguyên trung phần là vùng đất có nhiều sắc dân thiểu số sinh sống: Ê-đê, Ba-na, Sê-đăng, M’Nông, Gia-rai....và quanh thị xã người Ê-đê chiếm đa số. Tôi không chắc lắm, nhưng theo tài liệu đọc được thì đây là một sắc tộc có nhiều ưu điểm nổi trội so với các sắc tộc khác.
Và khi nói đến những sắc dân thiểu số mà không nói một chút đến những ngôi nhà sàn thì quả là thiếu sót.
Mỗi buôn có một ngôi nhà rông dùng làm nơi hội họp của các người già trong buôn với Già làng về tất cả các vấn đề từ tâm linh đến sinh hoạt cộng đồng trong buôn. Trong buôn những ngôi nhà sàn được cất lộn xộn tuỳ thích, không theo một quy hoạch cụ thể nào cả. Họ không có khái niệm về sự tư hữu phần đất thổ cư. Không có rào giậu ngăn cách bằng những hàng dâm bụt hay tường vi, không có những khoảng sân riêng để trồng vài khóm hoa cho đẹp mắt. Chỉ có những ngôi nhà sàn trên là người ở, dưới cột mấy con trâu, gà qué và những con heo bụng phết sát đất đi lại lung tung. Nhìn vào một buôn thượng thật là...chán ngắt! Có điều bất kỳ buôn nào cũng phải gần một bến nước.
Trong đó, thỉnh thoảng cũng có những cái nhà dài của những gia đình khá giả. Nghe kể rằng mỗi khi con cái trong nhà lập gia đình, họ lại cất nối thêm gian nhà chung ấy.
Họ được gọi là những dân tộc thiểu số nên rất hãnh diện với những căn nhà dài, chứng tỏ trong gia đình họ có đông con cháu.
Đó là nhà của anh bạn học cùng lớp Y Nuôk K’TLa ở buôn Alê A dưới cổng số 1. Anh rất dễ mến. Tôi đã từng lăn lóc cùng anh trên sàn nhà để đàn hát vui chơi thân tình không hề có sự phân biệt Kinh Thượng. Nghe đồn rằng bây giờ anh đã giỏi hơn tôi rất nhiều, anh nói tiếng Mỹ như lặt rau vì anh hiện đang sinh sống...ở nước Cờ hoa.
Sách giáo khoa dạy tôi rằng những dân tộc thiểu số sống theo tập quán du canh du cư. Thực tế cho thấy giữa sách vở và đời sống có một sự khác biệt lớn. Có thể họ vẫn sống theo cách du canh, nhưng chuyện du cư là nói về những buôn làng nghèo nàn xa xôi nào đó.
Ngôi nhà của anh Y Nuôk là một minh chứng điển hình. Khung nhà được làm bằng những cây gỗ tròn lớn loại danh mộc vững chắc. Tuy lợp mái tranh nhưng nó dầy khoảng 15 cm. Tôi có hỏi anh bao lâu phải lợp lại mái nhà thì được trả lời mỗi năm sẽ dậm lại những chỗ bị dột thôi, còn mái nhà phải sử dụng tốt khoảng mười năm mới giở ra hết lợp mới lại. Thời gian gấp hơn ba lần ở dưới quê tôi thì cái chữ du cư nghe không thuyết phục.
Có điều không ai “khai sáng” cho họ là nếu sàn nhà được lót bằng những mảnh ván xẻ ra từ những cây cổ thụ bạt ngàn kề bên họ sẽ tạo nên sự vững chải, lâu dài và an toàn cho ngôi nhà hơn, không phải mất công phải thay lớp cây tre trải sàn nhiều lần trong suốt cuộc đời họ và đám hậu duệ nối tiếp.
Đừng lấy hình ảnh buôn thượng ở Khu Du Lịch Buôn KoTam đang ở ven Thành phố Buôn Ma Thuột đã có sự nhúng tay của người Kinh bây giờ mà mường tượng đó là hình ảnh đặc trưng của một buôn thượng trên cao nguyên.
Làn khói xám của những đống củi đốt xua muỗi cho đám đại gia súc bay uốn éo trong không gian, tiếng trẻ con chơi đùa, tiếng gà qué giành nhau kiếm ăn, tiếng con heo ủn ỉn quanh chân, tiếng giã gạo giã bắp của những người phụ nữ...tất cả tập họp lại thành một âm thanh nền đặc trưng cho những buôn thượng. Nó là tiếng réo gọi những người con xa nhà đi học tập ở những thành phố lớn mong có ngày trở về buôn làng mình để nâng cao đời sống cho bà con, là tiếng kêu vang vọng trong giấc mơ của những người phải rời bỏ buôn làng mưu sinh trên những nẻo đường xa...Nhưng tôi không biết nó có vương vấn chút nào trong tâm hồn cô con gái đất Tây nguyên đạt danh hiệu Hoa Hậu đi quảng cáo cho nhãn hàng Huwai của thằng Tàu khựa không?
Trên tổ-quốc-tôi bắt đầu từ vĩ tuyến 17 kéo dài đến mũi Cà Mau, những người dân tộc ấy ngày xưa quả là những dân tộc thiểu số. Còn bây giờ trước làn sóng những con-người-lạ tràn vào, họ đã trở thành những người thiểu số ngay trên chính quê hương mình là vùng đất Tây nguyên.
Hãy nhìn những đôi mắt đen láy thẳm sâu ấy mà nhiều người cho là đẹp, riêng tôi lại nhìn thấy trong đó một sự u uất, hờn oán tương tự như những đôi mắt người dân tộc Chăm ở Ninh Thuận...
Sau nầy khi lớn hơn một chút, ngồi trên những chuyến xe đò về đồng bằng trong những dịp hè, nhìn những đồi cỏ may hoang vu lướt nhanh bên ngoài khung cửa sổ, tự dưng trong đầu tôi lại mường tượng có dáng hình một thiếu nữ chạy về phía mình trong hai vạt áo dài bay bay trong gió, những bước chân lướt nhanh trên ngọn cỏ dang hai tay như đón đợi một tình yêu.
Dường như có một đấng tiên tri nào đó muốn báo cho biết trước rằng tôi sẽ gặp được một tình yêu đầu đời ở vùng đất ấy. Có lẽ tâm hồn tôi đã nhuốm chút lãng mạn...hơi sớm!
Những năm ở tuổi mười bảy mười tám tôi đâm ra...lãng mạn thật luôn.
“Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường...”
Tôi bắt đầu biết yêu màu hoa Dã Quỳ vàng, màu đỏ rực như lửa có những đốm trắng nho nhỏ của những đoá hoa phượng vỹ, hoa cà phê trắng muốt, biết thích đi dạo ở Rừng Lao Xao với những cô bạn học cùng lớp.
Quả thực những đoá hoa phượng vỹ với những bài hát chia xa của tuổi học trò rất hay nhưng không tác động gì nhiều đến tôi vì hầu như những bạn học cùng thời cứ từ đệ nhất cấp rồi tiếp lên đệ nhị cấp. Đến khi tôi phải ra trường, thực sự chia xa bạn bè thì tiếng súng Mậu Thân đã gây nên một đợt sóng thần trong tâm hồn tôi cùng khoảng đời gian truân đang phơi bày trước mắt đã che lấp hết những xúc cảm bùi ngùi.
Những cánh hoa phượng cuối đời rụng đầy mặt đường Nguyễn Du tạo nên một tấm thảm đỏ rực trên nền đường xám ngắt và nổi bật trên đám cỏ xanh ven đường làm át hẳn màu đất đỏ chỉ tạo cho tôi một sự thích thú dưới những bước chân rong chơi êm ả của tuổi học trò mà thôi.
Cuối phi trường L19 rồi rẻ ngoặt tay phải lối vào Xóm đạo, có một vạt dã quỳ bụ bẫm. Đến mùa hoa nở, đã làm sáng rực không gian nơi đó. Khi còn đi học, tôi đã qua lại nơi đó rất nhiều lần nhưng chỉ nhìn phất phơ. Nó chẳng để lại trong tâm hồn tôi một điều gì khác lạ.
Nhưng sau khi vào lính, trong chuyến đi phép đầu tiên trở về chốn cũ, trong một buổi tối sương giăng tôi đã tản bộ cùng “người ấy” dưới vòm hoa đã mờ sắc vàng trong bóng đêm. Nụ hôn vụng về đầu tiên khi nàng đã...sa vào tay giặc có sự chứng kiến của chúng. Nào có rành rẽ chi đâu? Cả hai cứ vụng về, luống cuống như...làm nháp, nhưng đó là một thái độ dâng hiến và tiếp nhận toàn tâm toàn ý.
Chính vì thế mà những đoá dã quỳ cứ sống mãi trong hồn và tôi cứ hay nhắc nhớ về chúng, bởi phàm điều gì đầu tiên cũng tạo nên một vết khắc rất sâu.
Riêng những đoá hoa cà phê trắng muốt thơm lừng hương đưa lại có một vị trí đặc biệt. Nó như cái tình cảm tinh khôi đầu đời chưa vương hạt bụi nào của sự cách ngăn.
Tôi yêu nó bắt đầu từ trong cánh Rừng Lao Xao. Tuy đã có vài giọt nước mắt, nhưng đó chỉ là nỗi xúc động không kìm nén được của riêng tôi khi nghĩ tới số phận của mình. Ấy là lúc cô bạn học đưa tôi đọc quyển Bông hồng cài áo của Nhất Hạnh ở trong rừng.
Chính những giọt nước mắt thật thà ấy giống như những giọt nước kỳ diệu đã tưới tắm cho cái tình yêu học trò đâm chồi nẩy lộc rất mãnh liệt đã làm tôi choáng ngợp đến bàng hoàng. Tôi như bị chìm đắm trong những lớp sóng trào dâng xô đẩy liên tục đến ngẩn ngơ thất kinh hồn vía luôn.
Rồi từ đó, mùi hương nồng nàn quyến rũ ấy đã đi theo tôi suốt cuộc đời nầy...
Tuy không bằng các cô gái Đà Lạt má đỏ môi hồng, các cô nữ sinh con nhà giàu trường Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux mà tôi đã có dịp nhìn thấy trên Đà Lạt, con gái Banmêthuột có đẹp không?
Rất đẹp!
Chả thế mà mỗi sáng tôi với anh bạn Đặng Phó cứ vòng xe loanh quanh các trường trung học Hưng Đức, Vinh Sơn, Bán Công rồi mới về trường nhà cho kịp giờ vô lớp để ngắm các nàng áo dài tung bay trong gió sớm. Nhưng...
“Muốn người ta người ta hổng muốn
Xách cái xe chạy xuống chạy lên”
Riêng trường Bồ Đề thì không dám léo hánh vì tôi hơi ngán Ông Phật bên Chùa Khải Đoan.
Mỗi sáng Chủ nhật tan lễ ở nhà thờ Chánh toà, các cô túa ra với những tà áo dài đầy màu sắc như một đàn bướm bay khiến tôi cứ phải vòng qua vòng lại ngắm tới...hoa mắt. Dường như sau khi quỳ dưới chân Chúa, đọc kinh cầu nguyện với lòng thuần thành, nhan sắc của các nàng trông thánh thiện và đáng yêu gấp bội phần nên cứ làm khổ cái thằng tôi!
Dù gì thì ông trời cũng đãi cho kẻ có công. Đã có vài bóng hồng len lỏi vào trái tim tôi, vào tâm hồn tôi để nở ra những đoá hoa tình ái toả hương thơm ngát và tôi vẫn còn nhớ mãi cho tới tận bây giờ.
Thưa bạn,
Muốn trang trải hết lòng mình thì viết biết bao nhiêu con chữ cho vừa?
Những tình cảm nhớ nhung của tôi về miền đất Banmêthuột là những viên ngọc sáng long lanh, nhưng nó như ẩn chứa trong cái phôi với vẻ ngoài còn thô mộc. Xin phơi bày ra đấy! Rồi tuỳ mỗi người sẽ gọt giũa nó theo hình dáng nào tuỳ ý. Có thể chỉ để nhìn ngắm nó cho đỡ nỗi nhớ quê, nhớ cha nhớ mẹ, nhớ bạn bè một thủa. Có thể sẽ đính thêm vào những viên ngọc kỷ niệm của riêng mình giúp nó lớn hơn, long lanh hơn để tận hưởng vài phút giây hạnh phúc trong cuộc sống đời thường cứ thản nhiên trôi qua, đôi khi nhàn nhạt.
Tuỳ theo tâm thức mỗi người, hạnh phúc trong tâm hồn tưởng là bây giờ khó mà tìm lại được, nhưng cũng có khi nó nhẹ nhàng đến bất chợt không hay.
Bạn hãy nhìn lên bầu trời xanh trong trên cao kia, hãy nhìn vào những đám mây trắng nõn đang thẩn thờ bay qua kia, hãy nghe ngọn gió mát đang vờn nhẹ trên mái tóc, trộm phớt lên đôi má của mình...
Tưởng tượng đi...
Đó là bầu trời xanh ngày cũ, đó là những đám mây trắng ngày cũ, đó là cơn gió nhẹ ngày cũ...của mảnh đất Banmêthuột mình đã từng sống.
Chúng đang khe khẽ trở về để thủ thỉ với bạn những tâm tình tinh khôi như của thủa nào, bạn sẽ thấy mình chìm đắm vào thứ hạnh phúc nhè nhẹ có một mùi hương ngọt ngào đến không ngờ...
HÙNG BI
Xem thông tin chi tiết
Tất cả cảm xúc:
Quang Vuongminh, Nguyễn An Dân và 97 người khác
67
9
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Xem thêm bình luận
Quang Vuongminh
Bức tranh Thị xã BAN MÊ THUỘT...!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét