Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018

Mùng 2 tết ở Giáo họ Buôn Trấp...
Không ai chọn được cha mẹ cũng như chọn được nơi mình sinh ra...
THẢO KÍNH CHA MẸ
Công ơn cha mẹ – Lm. Mi Trầm.
Xin cảm ơn Trời Ngài đưa con vào đời,
Xin cảm ơn mẹ chín tháng mười ngày cưu mang.
Xin cảm ơn cha nuôi con một đời gian nan.
Tình mẹ tình cha con biết lấy chi báo đền.
Con biết lấy chi báo đền tình mẹ tình cha vô biên
Công cha như núi Thái Sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Xuân sang xin Chúa chúc lành cho cha mẹ thương mến chân thành vì con, một đời duyên tình sắt son, gia đình hạnh phúc mãi còn mùa xuân...
...
*Trích bài hát Công Ơn Cha Mẹ -Lm Mi Trầm - Minh Cửu -DuyHan (https://www.youtube.com/watch?v=BnLE7dvR-ZI)

Buôn Trấp chiều ba mươi...
NGẮM ÔNG MẶT TRỜI

Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

ĐI LỄ CHÙA CUỐI NĂM

Ngày ba mươi Tết của cuộc đời...
ĐI LỄ CHÙA CUỐI NĂM
Lịch Tây đã sang năm mới, nhưng lịch ta đang xuôi về cuối năm. Con gái 12 tuổi của tôi bất chợt hỏi: “Sao gọi là ba ngày tết, ba?”. Lại một ca khó đây. Thỉnh thoảng cô gái nhỏ làm tôi lúng túng, khó trả lời cặn kẽ...
Quê tôi, người ta còn gọi “Mùng một tết cha, mùng hai tết bạn, mùng ba tết thầy”. Đấng sinh thành cha, mẹ, không phân biệt nội, ngoại.“Mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ” còn là biểu trưng của nguồn cội tổ tiên. “Mùng hai tết bạn” - Có lẽ cha ông xưa xuôi về phương Nam mở cõi, trước bao hiểm nguy sói hung, hổ dữ, thì ngoài gia tộc, là xóm làng, bè bạn sống chết có nhau. Nên ngày tết không chỉ là ngày của gia đình, mà còn là ngày của bạn bè, lối xóm.
Sau khi chăm chú nghe ý nghĩa nhân văn của ba ngày tết, con gái tôi bảo: “Phải gọi là bốn ngày tết mới đúng chớ ba, sao lại bỏ ngày ba mươi”. Cuối năm cũng là dịp lễ chùa. Và con gái tự thêm vào “Ba mươi tết chùa”.
Ngôi chùa! Tôi rời quê ra phố hơn 35 năm, mỗi dịp tết về lại chốn xưa. Cái xóm nhỏ có ngôi chùa...
Âm thanh quen thuộc đi vào ký ức tuổi thơ tôi là tiếng trống chùa vang lên điểm sang canh giữa đêm khuya. Thỉnh thoảng tiếng trống chùa hòa tiếng chuông nhà thờ ngân nga. Thời trước, dân xứ tôi không nhà nào có cái đồng hồ xem giờ. Tiếng trống chùa, chuông nhà thờ chính là đồng hồ báo thức của cả xóm. Má tôi theo cái âm thanh đó mà thức dậy nấu cơm khuya đi ruộng. Bọn trẻ chúng tôi thì lấy đó làm giờ báo thức để dậy học bài. Nhớ xưa má bảo, học trò phải dậy sớm học bài khi bụng còn đói, học như ăn cơm, nuốt chữ mới mau thuộc, nhớ dai. Kinh nghiệm học bài của người không biết chữ như má tôi vậy mà hiệu nghiệm. Anh em tôi ai cũng học giỏi. Tiếc vì nhà nghèo, đông anh em mà các chị tôi đều phải bỏ học nửa chừng để các em trai được học tiếp, ra trường huyện, lên trường tỉnh, rồi đi Sài Gòn, để sau này có những năm tháng du học xứ người. Mấy mươi năm lạc loài nơi phố thị, ký ức tuổi thơ tôi còn vẳng xa tiếng trống chùa.
Lễ chùa, trong tâm thức của nhiều người Việt không chỉ là cầu an, đặng phước, mà còn là từ tâm, tìm về thanh thản, nên ngày tết cũng là dịp lễ chùa. “Ba mươi tết chùa”, lần đầu tiên nghe con gái gọi lạ, nhưng ngẫm ra có lý. Ba mươi tết là ngày “rước ông bà” về chung vui với con cháu. Đêm ba mươi là thời khắc giao thừa, chuyển giao cũ – mới. Ý nghĩa “ba mươi tết chùa” không chỉ hạn hẹp trong lễ chùa mà còn là từ tâm ở đời, nên ngày tết đâu dễ quên.
...
(Theo Thesaigontimes.vn)

NGHỀ DỌN NHÀ CHO NGƯỜI ÂM

Năm hết tết đến, người Việt giữ truyền thống thắp nhang, sơn sửa, dọn dẹp lại phần mộ của ông bà tổ tiên để đón xuân...
NGHỀ DỌN NHÀ CHO NGƯỜI ÂM
...
Nghĩa trang ngày cuối năm nhộn nhịp hơn thường lệ bởi có nhiều đứa trẻ đang hý hoáy lau chùi, tẩy rửa, quét sơn ở các ngôi mộ. Đa số chúng là con em người dân lao động nghèo quanh nghĩa trang, tranh thủ những ngày nghỉ tết sớm theo chân các “cai thầu” chuyên nhận tu sửa mộ phần.
Dưới ánh nắng xuân, trên các phần mộ thấp thoáng bóng những đứa trẻ miệt mài làm việc... Để làm được công việc này, đám trẻ phải có tính kiên trì và đặc biệt “không nói tục khi đang sang sửa mộ”.
...
Chen giữa những ngôi mộ đã được sửa sang đẹp đẽ vẫn có những ngôi mộ um tùm cỏ dại, bạc màu mưa nắng. Cạnh những khu mộ này luôn thấp thoáng bóng mấy đứa trẻ chờ người tới thuê dọn dẹp mộ.
... /...
Ẩn sau không khí ảm đạm, tưởng chừng như chỉ biết đến có chết chóc và những nấm mộ lạnh lẽo này lại là nơi mưu sinh, kiếm sống của hàng trăm con người. Tất cả mọi người ở đây, ai cũng như ai họ đều làm việc liên quan đến mộ. Từ việc bốc hài cốt, xây mới mộ phần cho tới chăm sóc, lau chùi… tất cả tạo thành một “ê kíp” thu gọn nhưng đầy đủ.
Ngày qua ngày, hàng ngàn ngôi mộ vẫn được chăm sóc bởi bàn tay của những người phụ nữ nơi đây. Các chị em làm nghề chia sẻ, chăm mộ không chỉ là nghề kiếm tiền giúp họ trang trải cuộc sống mà còn là một công việc mang nhiều ý nghĩa tâm linh.
...
Nhìn những người phụ nữ cặm cụi bên những phần mộ trong nghĩa trang, người cắt cỏ, người lau chùi, dọn dẹp một cách mẫn cán, đầy trách nhiệm như đối với người thân, chúng tôi thấy trân trọng các chị hơn.
Phần đông những người đã khuất đều có con cháu ở xa nên nếu không có những người làm nghề này, hẳn những vong linh nằm dưới các phần mộ kia sẽ thấy cô quạnh và tủi thân. Nếu coi việc chăm mộ cũng là một nghề thì đây là nghề chân chính, đáng được trân trọng.
...
(Theo báo Dân Trí)

Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018

THÂN PHẬN CHÚ CHÓ

Hình ảnh con chó trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ... trong sách giáo khoa & văn học.
THÂN PHẬN CHÚ CHÓ
Hồi lớp hai có bài tập đọc vui
CON CHÓ ĐẢM ĐANG
Con chó đảm đang
Thích mặc cho sang
Soi gương chải tóc
Học hát ầm vang
Nhưng chó chăm làm
Nó quét nhà cửa
Lau bàn ghế tựa
Đun nước lò than
Về chó, ca dao ta còn có câu cực hay :
Bực mình con chó nhỏ sủa dai
Sủa nguyệt lâu đài, sủa bóng trăng lu
Hát ru
Con mèo, con chó có lông,
Cây tre có mắt, nồi đồng có quai
Đồng dao
Con gà cục tác là chanh,
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,
Con chó khóc đứng, khóc ngồi:
"Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng!"
Tục ngữ
Xem con chó là một biểu tượng xấu xa và lấy đó để ví von, nói về những hiện tượng tiêu cực của xã hội hoặc của con người:
Làm người thì khó, làm chó thì dễ
Hục hặc như chó với mèo
Chó cậy gần nhà, gà cậy gần vườn
Chó chui gầm chạn
Nói về tập tính của loài chó, từ đấy liên hệ đến tính tình của con người:
Chó giữ nhà, gà gáy sáng
Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu
Quan sát từ con chó để nói về những kinh nghiệm sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người:
Bán gà tránh trời gió, bán chó tránh trời mưa.
Chó dữ mất láng giềng
Thành ngữ
Hỗn như chó
Chó càn cắn giậu
Chó cắn áo rách
Chó ngáp phải ruồi
Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo
Văn học
Bóng dáng, tiếng sủa của con chó gắn bó với phong cảnh làng mạc Việt Nam, được Nguyễn Khuyến ghi lại bằng câu thơ tài tình :
Trâu già gốc bụi phì hơi nắng
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người
Lời lẽ nôm na, toàn những tiếng đơn âm, gợi lên phong cảnh, khí hậu buổi trưa hè Việt Nam trong những chi tiết độc đáo và chọn lọc, hơi thở mạnh của con trâu trong khí nóng bức và im ắng , khiến một âm hao nào đó của con người cũng đủ khuấy động không gian, làm giật mình con « chó nhỏ » thơ ngây. Câu thơ nôm na như vậy dễ làm người đọc quên nguyên tác bằng chữ Hán :
Ngọa thụ bì ngưu hư thử khí
Cách trì tiểu khuyển phệ nhân thanh
...
(ST)

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

VỢ CHỒNG QUEN HƠI *Sean Bảo

Chim quyên ăn trái nhãn lồng...
VỢ CHỒNG QUEN HƠI
*Sean Bảo
Một chiều cuối năm nơi xa xăm, gió lồng lộng mát cuối sông, chợt nghe văng vẳng một điệu lý bên giòng Cửu Long năm nào.
Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi
Câu ca dao Nam Bộ chân chất phù sa mà ngọt ngào tình quê làm say đắm lòng ai bao miền. Chẳng biết chim quyên là chim đỗ quyên huyền thoại mang nỗi lòng nhớ nước, tiếng kêu ai oán trong đêm trường. Hay con chim vành khuyên xinh đẹp mang tiếng hót véo von cho người. Chẳng biết trái nhãn lồng miền nam có như trái nhãn lồng mọng nước ngọt ngào ở Kim Long hay Hưng Yên. Hay chỉ là trái chùm bao mọc ven bờ bụi. Chỉ biết trong hai câu ca dao kia gói trọn ba hình ảnh thật hạnh phúc và đẹp đến nao lòng. Chim quyên - trái nhãn lồng, con cá thia lia - chậu nước và vợ chồng quen hơi.
Chim quyên hẳn thích ăn trái nhãn lồng như con cá lia thia quen chậu. Con cá đá lia thia màu sắc như cầu vồng, áo xiêm rực rở nhưng lại oai phong với cứ địa, quen chỗ nằm, chung thủy với cá cái. Có người bảo là lia thia quen chỗ mới đúng. Thì quen chỗ hay quen chậu cũng là một nơi cá vẫy vùng hùng cứ một phương. Nhưng quen chậu nghe nó thuận vần, trong hình ảnh cái chậu nó gợi một sự gò bó nhỏ nhoi nghèo khó. Như một túp lều tranh, một chiếc thuyền con, trong đó có đôi vợ chồng quen hơi. Hay làm sao hai chữ quen hơi. Không quen gì cho dễ nhớ, dễ thương; như quen mặt, quen tiếng nói, quen ánh mắt nụ cười, quen dáng đi, quen mái tóc và thói hư tật xấu của nhau. (Người ta hay nói sống với nhau quen, vợ chồng giống như người thân ruột thịt.) Ấy vậy mà quen hơi lại là hình ảnh không sắc màu trong tình yêu làm vương vấn lòng nhau nhất.
Quen hơi là quen mùi của nhau. Chẳng riêng gì cùng dân, chân lấm tay bùn hát ru câu ca dao hay ru con muồi mẫn đêm thâu: gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó. Hay gái bén hơi trai như rau khoai bén đạm. Mà thi ca trong hàn lâm gác tía, trong cung cấm vàng son cũng ray rức một mùi hương thương yêu quyến luyến rất mực diệu kỳ:
“Ới Thị Bằng ơi, đã mất rồi,
Ôi tình, ôi nghĩa, ới duyên ôi!
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói,
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi. (Khóc Bằng Phi)
Cũng chẳng cần biết bài thơ ngập tràn tình ý sâu kín nọ có phải là của đấng quân vương đa tình. Một quân vương tài hoa mà dấu tích để lại là một Khiêm Lăng có kiến trúc mềm mại như một bài thơ, trầm mặc như bức tranh sơn thủy hửu tình, một thánh tích hùng vĩ đã trơ gan cùng tuế nguyệt thật đẹp. Hay của một thi tài nhân đã biệt tăm cội nguồn. Nhưng để làm được hai câu trau chuốt để đời tuyệt vời “Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại, để dành hơi.” Thì phải là thuộc giai tầng quý tộc, phong lưu uyên bác văn chương. Và trên hết là một mối tình chung son sắc đá vàng.
Trong Gửi gió cho mây ngàn bay, Đoàn Chuẩn-Từ Linh đã nuối tiếc khi nhìn lá đổ muôn chiều, ôi! lá úa cho những cuộc tình xa. Càng già cỗi với tà huy thì lòng thương nhớ càng đầy.
"Thấy hối tiếc nhiều
Thuyền đã sang bờ, đường về không lối
Dòng đời trôi đã về chiều, mà lòng mến còn nhiều
Đập gương xưa tìm bóng."
Yêu mến quá nên đập gương xưa tìm bóng. Hình bóng ấy dù đập vỡ gương soi vẫn còn lưu ảnh trong hoài niệm, trong cơn say đã thi thoảng thấy: thoáng hiện em về trong đáy cốc, nói cười như chuyện một đêm mơ (Quang Dũng.) Thì hương xưa có lẽ còn vương vấn đâu đó thật trong tàn y cố nhân yêu dấu. Để dành ấp ủ mùi hương quen thuộc ái ân ấy phải xếp lại những tàn y. Gấp lại tà áo xanh, chiếc quần lụa, mảnh khăn xoan...nghe rưng rức nhớ và thoang thoảng bên người mùi tình nhân nồng nàn năm cũ.
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình (Nguyễn Du). Con đường đi đến trái tim thường bắt đầu bằng nụ hôn. Gần nơi bờ môi này, khóe miệng và nụ cười ấy là cánh mủi để tỏ bày âu yếm. Như loài thú yêu nhau. Như chó mèo hít hà chào nhau mơn trớn. Như một khúc dạo đầu cho bản tình ca bằng những nốt lặng nhẹ nhàng. Trước khi hòa nhịp ái ân cho đỉnh cao dâng hiến. Mùi của tình nhân, của thịt da gọi mời quyến luyến.
Mùi ấy hình như chỉ có vợ chồng bén hơi mới nhớ. Mùi của gối chăn mà đêm hạ nồng hay khuya đông rét đều lưu luyến. Mùi của mái tóc đẫm sương giang hồ, mùi khói súng chiến trường hay khét nắng lưng trần trên cánh đồng của người chồng. Mùi của hương chanh, hương bồ kết, hương hoa lài thơm trên mái tóc huyền còn quyện mùi khói bếp đợi chờ. Có cả mùi phèn, mùi bùn non, mùi nước mặn...Lẫn trong mùi của men rượu đắng và hương trà xanh. Mùi thuốc lá và trầu cay. Mùi mồ hôi và những góc khuất của thân thể quen thuộc... Cái mùi khó tả mà vợ chồng mặn mà mới nhận lấy của nhau. Gọi là mùi của mình. Mình ơi!
Ấy là mùi vợ chồng nhân nghĩa đã quen hơi. Quen rồi thì ngàn năm xa nhau mà lòng mãi nhớ. Trong năm tháng biệt ly ấy, tình yêu dấy lên sự khát khao của tất cả các giác quan. Ánh mắt tràn ngập sắc màu của vẻ đẹp, vị ngọt ngào của nụ hôn, cảm giác rung động dưới làn da, âm thanh lời thỏ thẻ bên tai và nồng nàn mùi tình ái. Ái tình thần thánh và thăng hoa, hòa nhập mọi xúc cảm. Khi khoảng cách giửa quá khứ và hiện tại, cái gọi là thời gian, bổng dưng có sắc màu và mùi vị. Sự liên tưởng của hoài niệm làm đánh thức và pha trộn các giác quan hửu hạn. Để người hôm nay thấy màu thời gian, hương thời gian khi nghĩ về cố nhân.
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh (Đoàn Phú Tứ)
Màu thời gian tím ngát của nhành thạch thảo khi mùa thu chết lịm bên hồn. Hương thời gian thanh thanh của những bâng khuâng khi hoài niệm tình nồng năm xưa. Ôi! ngát hương thời gian mùi thạch thảo. Nhìn nhành thạch thảo Appolinaire thấy ngát hương thời gian, scent of time, hay phải nhờ Bùi Giáng thất thần chuyển dịch làm phiêu hốt miên trường:
Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường
Nhành hoang thạch thảo ngậm mùi vương
Bóng bẩy trong thi ca của quân vương hay chơn chất ngọt ngào dân giả của điệu lý Nam Bộ, thì mùi hương của tàn y mà cố nhân ấp ủ là hơi của vợ chồng đã quen. Quen đến ghen, quen đến ghiền, quen đến phiền. Phiền vì hơi quen ấy đến với nhau hơi “bất công”. Hơi quen ấy làm em hườm như trái chín, ngày càng nồng nàn. Hơi quen ấy làm anh ngày càng mỏi gối chùn chân. Gái phải hơi trai như thài lài kia ngày càng xanh tốt. Trong khi “trai phải hơi gái, thì mặt tái râu phờ.” Hay “trai phải hơi vợ như cò bợ phải trời mưa.” Phiền thật! Mặt tái râu phờ thì nhủ lòng chả thèm soi gương. Con cò bợ phải trời mưa thì ướt cánh, lông lá ủ ê tơi tả lắm. Chẳng cần gương soi. Đập gương là phải. Tìm bóng xưa không thấy khi gương vỡ, thì còn đó trong gương lòng mình vọng động. Nhớ nhau thì tìm trong đáy cốc qua vài chung rượu buồn. Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát. Đời vắng em rồi vui với ai. Có tiếng hát từ thuở tiền chiến đắm say và một điệu lý chim quyên, đem gương xưa và hơi quen tình nghĩa thấm vào lòng. Nhất là giai điệu mênh mang sông nước, nghe ngọt lịm đến mê hồn:
Chim quyên chưa ăn trái nhãn lồng
Qua chưa thương bậu, bậu đừng thương qua.
Mèn đét ơi! Dân Nam Bộ coi vậy mà nhát gan. Ngày xưa khi bạt mạng kiêu hùng vào khẩn đất khai hoang, cái vùng đất màu mỡ mà đầy hiểm nguy sông nước, mảnh đất lạ đầy kinh sợ:
“Đến đây lạ xứ, lạ làng.
Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng kinh”
Con chim ấy tất không phải chim quyên, con cá ấy không phải là lia thia. Là con chim cú, là con cá sấu...Kinh sợ vậy mà đã làm nên mảnh đất trù phú bao la, giàu có và hào phóng như chính tính tình người Nam Bộ. Vậy mà chỉ sợ quen hơi bén mùi, lỡ mai kia có trắc trở xa nhau thì chịu không nỗi. Chẳng thà không biết thì thôi. Biết rồi mỗi đứa một nơi...thiệt buồn. Biết đây là biết mùi.
Chỉ có mùi tình mới khủng khiếp như vậy. Sợ là phải. Nên thà đừng quen hơi. Bậu đừng quen qua. Thương nhau chỉ gởi nhau trong gió một điệu lý. Một điệu lý thật muồi. Đừng gởi trong gió mùi của bậu. Bậu nghe!
Sean Bảo​

Quyến rũ đêm xuân bản Thái... TỤC CHỌC SÀN

Quyến rũ đêm xuân bản Thái...
TỤC CHỌC SÀN
Mùa xuân, khi rừng hoa ban, hoa mai, rừng đào phai nở trắng núi, duyên dáng thả mình xuống con suối trong veo là lúc các bản làng Thái ở vùng cao trở nên nhộn nhịp, rộn ràng hơn bất cứ thời gian nào trong năm.
Tôi gặp cô gái Thái tên Lò Nương trong một chợ phiên nhỏ ở Bản Panh (Sơn La) vào một ngày giáp Tết, cách đây chừng hai, ba năm. Lò Nương có dáng vóc nhỏ nhắn, trắng trẻo, khác hẳn sự miêu tả của nhiều người về thôn nữ vùng cao. Phút ban đầu e lệ nhanh chóng qua đi, Lò Nương vui vẻ dẫn tôi đi khắp chợ phiên, mời tôi nếm thử hương vị thơm hăng hắc của món thịt trâu nướng chấm muối ớt, miếng cơm lam trong những ống tre nhỏ. Lò Nương nói chưa thạo tiếng Kinh, mà tiếng Thái thì tôi không hiểu. Chất giọng lơ lớ Việt- Thái của cô đôi lúc khiến tôi thấy buồn cười, nhưng rồi cũng quen. Một lúc sau, nhân vật thứ ba xuất hiện, chàng trai Thái Tống Văn Pang-bạn của Lò Nương tình nguyện cùng chúng tôi du ngoạn chợ xuân ở bản Panh. Hình như Lò Nương và Tống Văn Pang là đôi bạn tình của nhau, cứ nhìn đôi mắt họ thì biết, tình tứ lắm. Pang kể tôi nghe, chuyện tình yêu của trai gái Thái rất tự do và đầy chất thơ. Đêm khuya, chàng trai đến một bản Thái, nơi có cô gái mà chàng ưng ý. Chó trong bản sủa rộ lên, nhưng không ai lấy làm lạ, bởi đó là bọn "in xáo"- tiếng Việt là "chơi gái", nhưng không có ý xấu như cách nói của người Việt. Chàng trai đứng dưới sàn, đoán chỗ cô gái ngủ và khẽ gọi. Cô gái tỉnh dậy, thì thào hỏi chuyện, nếu ưng sẽ khẽ dậy mở cửa để gặp chàng. Trai Thái chưa vợ có thể đi chọc sàn tuỳ ý, không phải xin phép bố mẹ và có thể đi đến sáng bạch mới về mà không bị trách mắng... Kể đến đây, cậu trai Pang mặt đỏ, liếc nhìn Lò Nương, không biết cậu đã "chọc sàn" nhà Lò Nương chưa?
...
(VH-NT)
*Trích từ nguồn http://www.mofa.gov.vn/quehuong/.