Tiếp nối loạt bài của tác giả Jean Baptiste Alberti trong cuốn sách “Đông Dương xưa và nay” (L’Indochine d’autrefois et d’aujourd’hui) xuất bản năm 1934 là bài khảo cứu giới thiệu khái quát về một vài dân tộc thiểu số sinh sống ở nước ta thời xưa.
NGƯỜI THÁI VÀ NGƯỜI THỔ
*Jean Baptiste Alberti
Nguồn gốc của những nhóm dân tộc Thái đã được trình bày khi nói về lịch sử của người Khmer; ở Bắc Kỳ, người An Nam ở vùng đồng bằng, người Thái lại định cư ở vùng trung du, độ cao khoảng 400m. Họ hình thành hai nhóm người: người Thổ ở phía bắc sông Hồng, và người Thái ở phía nam.
Đặc biệt ở vùng Lạng Sơn, Thất Khê, Cao Bằng, dân tộc Thổ là nhóm chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất, trước là từ Trung Hoa, sau là từ người An Nam. Ngôn ngữ của họ chứa nhiều từ gốc An Nam; họ dùng chữ Hán; trang phục của họ có kiểu dáng giống người An Nam, dù có màu xanh lam (nhuộm chàm), trong khi trang phục người An Nam có màu nâu (nhuộm bằng củ nâu). Tổ chức hệ thống chính trị của họ cũng gợi nhớ đến hệ thống của người An Nam, nhưng khác ở điểm họ có các dòng họ quan lại cha truyền con nối gọi là “Thổ ty”. Cũng như người An Nam, người Thổ chủ yếu làm ruộng lúa nước, họ cũng biết trồng lúa nương và ngô.
Từ thế kỷ XVI, sau các thỏa thuận không cần dùng tới bạo lực, người Nùng – một nhóm Thái khác – từ Quảng Tây đến hòa nhập với người Thổ. Người Nùng chung sống với các nhóm người Thổ khác. Họ rất chăm chỉ, vì thế họ dần sở hữu ruộng lúa nước và tạo dựng đời sống vật chất không kém gì người Thổ.
Người Thái lại chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ, đặc biệt là về chữ viết và Phật giáo. Tuy nhiên, ở thung lũng sông Đà và vùng núi ngăn cách thung lũng này với sông Hồng tồn tại một khu vực chuyển tiếp, cũng giống như vùng núi Thanh Hóa và Nghệ An. Ở nơi đó, các cộng đồng người Thái chỉ chịu ảnh hưởng chữ viết từ Ấn Độ, không chịu ảnh hưởng và không theo đạo Phật.
Người Thái được chia thành nhiều nhóm, phổ biến nhất là người Thái Đen và người Thái Trắng. Người Thái Đen cư trú ở khu vực giữa sông Đà và sông Hồng, người Thái Trắng sống ở phía nam sông Đà.
Người Thái Đen hay Thái Trắng đều có chung một gốc tộc. Tên gọi của họ khác biệt bắt nguồn từ đặc điểm trang phục mà người phụ nữ mặc. Phụ nữ Thái Đen dùng vải sẫm màu và không có họa tiết gì làm giảm vẻ nghiêm trang đó; trong khi ở nhóm Thái Trắng, chiếc áo cánh có màu trắng, có móc cài bằng bạc kèm vài món đồ trang trí đầy màu sắc.
Ảnh hưởng từ người An Nam đến người Thái ít thấy rõ hơn so với người Thổ. Ngôn ngữ của họ chứa ít từ gốc An Nam hơn, họ không dùng chữ Hán mà dùng một hệ thống chữ viết phiên âm bắt nguồn từ các bảng chữ cái Ấn Độ, tổ chức theo kiểu phong kiến của họ cũng mạnh mẽ hơn nhiều so với người Thổ.
Trang phục của người Thái nhìn chung có nét tương đồng với người Hoa. Cả nam lẫn nữ đều để tóc dài và đội một loại khăn vấn bằng lụa hoặc vải bông thô dệt trong nước, nhuộm chàm thật đậm. Ở nam giới, hai đầu khăn thả xuống hai bên mặt; còn nữ giới, sau khi che phần đỉnh đầu, khăn buông xuống mềm mại ở vai phải trông thật duyên dáng.
Trang phục của nam giới là một chiếc quần ống rộng và chiếc áo dài đến đầu gối, một dải khăn buộc áo ở eo, trên đó họ đeo dao rựa hoặc loại gươm thường dùng để phát cây. Phụ nữ mặc váy bằng vải bông mà họ tự dệt, nhuộm chàm đậm đến mức nhìn gần như màu đen; chiếc váy bó vào hông và đùi, dài đến bắp chân. Họ mặc chiếc áo kiểu bolero ở phần thân trên, nối liền với váy ở phần thắt lưng. Dù rất đơn giản, bộ trang phục này lại mang vẻ duyên dáng và đầy màu sắc đặc trưng.
Đặc điểm chung của người Thái và người Thổ
Nhìn chung người Thái và người Thổ có thể trạng khỏe mạnh và vóc dáng cao. Nét mặt đậm, gò má cao, mắt ít hoặc hầu như không xếch, nước da chủ yếu màu vàng nhưng có nền trắng mờ.
Tầng lớp cai trị đeo trang sức bằng vàng, vòng ngọc; những người khác đeo vòng cổ và vòng tay nặng cùng các loại đồ trang sức bằng bạc, hầu như làm bằng bạc khối, chẳng hạn như trâm cài tóc, khuyên tai, bộ dụng cụ ăn trầu…
Nhà của người Thái và người Thổ gần như đều dựng trên cột từ thân cây. Khung nhà bằng gỗ, các khoảng trống thì dùng tre nứa chẻ dập để che chắn; sàn nhà cũng được làm theo kiểu đó, có độ đàn hồi nhất định khiến khách châu Âu thường có phần lo lắng. Mái nhà lợp bằng rạ, bằng những tấm ván nhỏ xếp như ngói phẳng hoặc bằng thân tre bổ đôi, lợp như loại ngói bán trụ ở miền Nam nước Pháp. Trong nhà có nhiều gian, ngăn bằng các vách tre có cùng độ dày với tường bao bên ngoài. Gian trang trọng nhất đặt bàn thờ tổ tiên, đồng thời cũng là nơi tiếp khách và họp mặt. Mùa hè nhà nóng, mùa đông lại lạnh, luôn ám khói vì không có ống khói. Khoảng trống từ mặt đất lên sàn nhà dùng vào việc nhốt trâu, heo, gà vịt, nhờ đó bảo vệ chúng khỏi thú dữ vốn sợ tiếng ồn, ánh lửa và tiếng động từ những hoạt động của con người.
Ở trong nhà, dụng cụ giã gạo là thứ quan trọng. Loại cối đạp bằng chân khiến cả căn nhà rung theo nhịp đều đặn. Nhưng việc giã gạo thường được thực hiện bằng cối nước, nước từ suối được dẫn vào chiếc máng đặt ở đầu đòn bẩy của chày. Khi máng đầy, cán chày hạ xuống, nước đổ hết ra còn chày rơi xuống đập vào gạo.
Tính cách của người Thái và người Thổ ở Bắc Kỳ gần giống người Lào: ngay thẳng, dễ mến, vui vẻ và hòa thuận. Họ yêu thương con cái, kính trọng và vâng lời cha mẹ, những người miền núi chất phác này không lo toan quá nhiều về tương lai. Họ chịu đựng khó khăn giỏi và xem thường cái chết. Coi trọng truyền thống như nhiều dân tộc phương Đông khác, họ không mấy quan tâm tới tiến bộ, nhưng lại có tinh thần đoàn kết mạnh mẽ. Khi mất mùa, người giàu giúp người nghèo, và nếu cần, kho dự trữ lúa ngô của các tù trưởng được chia đều ra đến khi cạn sạch. Họ hỗ trợ lẫn nhau trong mọi việc: chẳng hạn như khi dựng nhà thì cả làng đều chung tay, khi hoàn thành, chỉ duy nhất một bữa ăn tươm tất hơn thường ngày đã là khoản “trả công” cho những người tự nguyện giúp sức. Mạnh mẽ và rắn rỏi, người Thái và người Thổ siêng năng hơn, giỏi làm nông hơn, khéo léo và sáng tạo hơn hầu hết các dân tộc miền núi khác.
Chẳng phải chính họ là những người biết dẫn nước từ những nguồn xa bằng các đường mương đục men theo sườn núi để tưới ruộng lúa nước đó sao? Còn đối với những thửa ruộng nằm trên cao, họ cũng biết dùng guồng nước thô sơ nhưng chắc chắn, bố trí khéo léo, giúp đưa nước từ những mạch thấp hơn lên cao 4-5m. Họ còn biết tận dụng các thác nước tự nhiên hoặc nhân tạo để vận hành cối xay và giã gạo. Họ cũng rất sáng tạo trong việc làm bù nhìn động đậy đặt trong ruộng để đuổi hươu và nai.
Giống người Thái ở Lào, người Thái ở Bắc Kỳ và An Nam sống rất đơn giản, họ chỉ cần khai thác rừng là cũng đủ giàu mà không phải vất vả nhiều. Họ thích vui chơi, lễ hội, chỉ chịu làm ruộng đủ để đáp ứng nhu cầu tối thiểu. Đàn ông sẵn sàng để phụ nữ làm nương rẫy và chăm sóc nhà cửa. Ngược lại, họ giữ vai trò mua bán những sản vật hiếm hoi phục vụ trao đổi, và đặc biệt là lo các công việc của cộng đồng, họ dành phần lớn thời gian những ngày nhàn rỗi của mình vào việc đó.
Tổ chức xã hội của người Thái và người Thổ cũng mang tính chất quý tộc. Trong mỗi vùng (mường, châu), các tầng lớp Lang đạo và Quan lang giữ quyền cai trị địa phương, nhưng đứng cao nhất vẫn là Tạo Mường, người nắm cả quyền dân sự và tôn giáo, thường là chư hầu của một lãnh chúa lớn hơn.
Jean Baptiste Alberti
Lê Hằng Nga (dịch)
*Trích đoạn trên nguồn https://thuviennguyenvanhuong.vn/mot-vai-dan-toc-mien-nui...
Ẩn bớt
Có thể là hình ảnh về cỏ. Không có mô tả ảnh.. Có thể là hình ảnh đen trắng về một hoặc nhiều người
Xem thông tin chi tiết




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét