Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

GIÀ LÀNG BUÔN AKOH DHÔNG *Linh Nga Nie Kdăm.

Cuộc đời sinh lão bệnh tử...
GIÀ LÀNG BUÔN AKOH DHÔNG
*Linh Nga Nie Kdăm.
...
1-Quê gốc ở M’drăk, năm 1954, chàng “ thảo dân” Y Diêm Niê đem người vợ xinh đẹp – dòng dõi tù trưởng – bỏ làng, nơi mối tình không “ môn đăng hộ đối” của họ không được công nhận, đi bộ, tìm đường lên Ban Mê Thuột, tụ tập những người lưu lạc lập nên buôn Akoh Dhông. Ngày đó xung quanh khu vực Buôn Ama Thuột chỉ có 3 buôn : Kó Siêr, Pân Lăm & Alê. Ông là một trong số ít những người đầu tiên mạnh dạn từ bỏ tín ngưỡng “ vạn vật hữu linh” để gia nhập đàn chiên của Đức Jesus Christ. Ông cũng là người Ê đê đầu tiên vượt qua mọi nhọc nhằn và thiếu hiểu biết, để học cách trồng và lập trang trại cà phê. Đúng truyền thống của một đầu làng - Khoa knơng buôn “ chính hiệu” , mấy chục ha cà phê do ông bỏ vốn khai hoang, điều hành cả buôn lượm hạt, lọ mọ tìm hiểu cách gieo trồng, chăm sóc, thậm chí sau 1975 học cả cách ngăn suối đắp đập để bảo đảm nguồn nước tưới, phân đều cho cả buôn,với phương thức mùa thu hoạch chia đôi.
Những năm đầu mới giải phóng, ông là “cái gai” trong cả mắt trái lẫn mắt phải của những người theo phương châm tất tần tật đều phải “ tập thể hóa”, không chấp nhận cả kinh tế đồn điền lẫn trang trại cá nhân. Nhất là nhờ cách làm ấy của ông, mà cuộc sống của cả buôn hồi đó gần như khá nhất trong khu vực người dân tộc của tỉnh, còn ông, với phong cách hồn nhiên vốn có, sẵn sàng cười vui với tất cả mọi người...
2-Năm 1979, tôi mới tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội về, phát hiện việc trong các liên hoan cồng chiêng hay nghệ thuật quần chúng toàn tỉnh, rất khó vận động các buôn đã theo đạo Thiên Chúa, và sau này là đạo Tin Lành tham gia đánh chiêng...
Một lần, đài truyền hình thành phố HCM đề nghị tôi cố vấn để quay một bộ phim tài liệu về Lễ cúng sức khỏe của người Ê đê, tôi xin già Ama H’Rin hỗ trợ . Ông sang ngôi nhà dài đẹp nhất buôn, bảo với gia chủ rằng “ Nó làm phim ghi lại phong tục ông bà xưa, phải giúp nhé”. Thế nên chúng tôi đã vô cùng thuận lợi khi mời thày cúng ở một buôn khác đến làm lễ ở buôn Akoh Dhông.Nhờ ông mà từ những thập kỷ 90 ( TK XX) sau này chúng tôi tìm được cách thuyết phục bà con , rằng “ ching chêng là tài sản quý của ông bà để lại,ngoài cúng Yang, đó còn là một nhạc cụ truyền thống, mình phải gìn giữ”. Từ trước khi cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, ông đã tự mày mò làm ching kram – ching tre rồi truyền dạy cho thanh niên trong buôn ...
3- Là người lập buôn, chủ bến nước – Pô pin ea, chắc chắn chưa hề qua một lớp huấn luyện của bất cứ một giáo sư nào về bảo vệ môi trường, nhưng ông luôn có ý thức giữ gìn cảnh quan, rừng cây, nguồn nước. Đã có không biết bao nhiêu bài báo gọi Akoh Dhông là “ buôn cổ, buôn rừng trong phố”, bởi những cây cổ thụ tỏa bóng râm mát cả một vùng rộng trên đường xuống bến nước, ông không bán, cũng cho phép ai chặt ( hồi một cây quá cỗi, mục, tự đổ trong bão, ông chọn đoạn lành nhất, làm một chiếc cầu thang đúng kiểu nhà dài Ê đê, cho người mang đến tặng nhà sàn của tôi). Buôn Akoh Dhông được chọn là điểm du lịch văn hóa dân tộc cũng còn nhờ công ông vừa tha thiết vừa kiên quyết dặn người trong buôn gìn giữ kiến trúc nhà dài cổ truyền. Các ngôi nhà gỗ lợp ngói vách nghiêng, mái nhọn nhô ra phía trước trong buôn, đều nằm dọc hai bên đường theo hướng truyền thống từ Bắc đến Nam. Khi gia đình nào vì sinh kế phải bán đất hoặc làm thêm nhà xây cho con cái trưởng thành, phải phá vỡ cảnh quan buôn cổ , cụ cũng góp ý phải làm hoặc bán khu đất phía sau nhà dài ( tiếc thay, những ngôi nhà xây đẹp như biệt thự làm hỏng cảnh quan buôn truyền thống - không phải của người trong buôn –lại là của những …cán bộ, trí thức người dân tộc ở huyện khác, mua đất của bà con, xây nên).Người trong buôn bây giờ đã ý thức được điều này, nên nếu tự làm lại nhà, cũng chọn kiến trúc cổ truyền, với đầy đủ tiện nghi phục vụ cuộc sống hiện tại…
Khi buôn chính thức được đưa vào “ tầm ngắm” của các tuor du lịch lữ hành Tây Nguyên, việc diễn tấu ching, nấu rượu cần, dệt thổ cẩm,hát, đàn dân gian trong buôn… không còn là điều “ cấm kỵ” nữa. Hiện trong buôn có hai đội ching cao tuổi và trẻ tuổi thường xuyên được mời phục vụ du khách trong và ngoài tỉnh. Ông không chỉ là cha của ca sỹ Y Zăk, mà còn là ông ngoại, ông nội của nhiều giọng hát hay cháy bỏng nhịp điệu sôi động của ching chêng khác như Y Son, Y Jăng, Y Ben...làm nên những nét đẹp của văn hóa Ê đê dân gian và hiện đại trong buôn.
...
Bây giờ thì Chúa đã gọi ông sau 4 tháng lâm trọng bệnh. Với nụ cười luôn tươi nở trên môi, cặp kính, chiếc nhẫn, chiếc đồng hồ và chiếc mũ cát ( những vật bất ly thân của cụ), hình ảnh già làng Ama H’Rin thật sự đã trở thành huyên thoại của miền cao nguyên đất đỏ. Tiếng ching knă mênh mang tiễn ông về nơi xa thẳm, mang theo tình cảm của biết bao tấm lòng bà con Ê đê và bạn bè gần xa. Bằng an cho ông.
...
Linh Nga Nie Kdăm.

LỄ HỘI "BẾN NƯỚC" ĐÓN XUÂN

Xứ Thượng ...
LỄ HỘI "BẾN NƯỚC" ĐÓN XUÂN
Người Ê Đê có một lễ hội độc đáo vào cuối tháng Chạp. Sau ngày trăng tròn, buôn làng sắm sửa lễ cúng “bến nước”, cầu thần linh sang xuân ban cho dân làng dồi dào sức khỏe, làm ăn khá giả...
...
Lễ cúng bến nước là đặc trưng văn hóa Ê Đê. Chủ bến nước là người phát hiện ra bến nước hay vùng đất định cư của buôn làng. Chủ bến nước có quyền chia đất ở, đất làm rẫy, đất chôn cất người chết và tổ chức các lễ hội. Bến nước là “phần hồn” của các buôn làng, dù đã có nước máy để dùng trong sinh hoạt, nhưng người Ê Đê vẫn dùng nước lấy từ bến nước để chế rượu cần và thờ cúng.
Từ thế hệ này sang thế hệ khác, người Ê Đê hình thành một truyền thống tốt đẹp là trân trọng nguồn nước hơn cả hạt muối, hạt gạo. Họ quan niệm thời du canh du cư, nhịn ăn suốt cả tuần, nhưng vẫn sống nhờ uống nước cầm hơi. Có được một nguồn nước trong, lành thì cả buôn làng phải hết lòng gìn giữ nó.
...
Theo phong tục, lễ cúng bến nước tưng bừng diễn ra trong 3 ngày: Ngày thứ nhất, sáng sớm dân trong buôn đã tập trung đông đủ tại nhà chủ bến nước. Đàn ông chuẩn bị các lễ vật, phụ nữ thì lo việc bếp núc...
Đoàn người do thầy cúng dẫn đầu đi ra bến nước làm lễ... Đến nơi, bày lễ vật ra, thầy cúng khấn cầu xin Giàng phù hộ cho nguồn nước trong lành, không bao giờ cạn, mọi người trong buôn uống nguồn nước này đều mạnh khỏe. Khấn cầu xong, thầy cúng cầm dao chém vào dòng nước, ngụ ý đuổi cái xấu đi. Các cô gái và chàng trai mang những quả bầu khô và ống tre hứng đầy nước. Lúc trở về nhà, các cô gái, chàng trai cầm quả bầu, ống nước lần lượt đổ vào các ché rượu cần để mời Giàng và Tổ tiên về uống rượu, chứng kiến buôn làng làm lễ cúng.
Ngày thứ hai người dân trong buôn cũng tập trung tại nhà chủ bến nước. Đường vào buôn bắt đầu đặt cây chắn ngang, buộc các loại chỉ hồng, lông gà… để báo cho khách lạ biết hôm nay trong buôn làng có việc, cấm người lạ vào buôn. Đồng thời, mọi sinh hoạt của người dân trong buôn như gùi nước, chẻ củi, giặt giũ… đều bị cấm...
Ngày thứ ba, hoàn tất nghi lễ cúng bến nước, Già làng, chủ bến nước và thầy cúng cùng ra mở cổng làng. Sau đó họ về nhà Gươl đọc lời khấn kết thúc nghi lễ. Sau đó, dân làng được đi săn, bắt cá, làm nương rẫy, sinh hoạt trở lại bình thường…
Không đơn thuần là tín ngưỡng, lễ cúng bến nước còn là sinh hoạt văn hóa cộng đồng độc đáo, giàu bản sắc dân tộc Ê Đê...
Vũ Hào

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Ông thần bếp của mẹ... *Nguyễn Thị Phinh

Ông thần bếp của mẹ...
KIỀNG BA CHÂN
*Nguyễn Thị Phinh
Mẹ bảo Ông thần bếp sẽ giữ ấm cho cả nhà, năm mới thì cái gì cũng phải đỏ…“Đầu năm mua muối, cuối năm mua dầu” và mẹ luôn làm bạn với cái kiềng ba chân không chỉ những ngày bình thường mà cả những ngày tết. Mẹ là người mẹ quê với những quan điểm rất Việt.
Mùng một, mẹ dậy sớm mở cửa để đón hương tết vào nhà. Mẹ vươn vai rồi bắt đầu xuống bếp, cái nơi mà mẹ bảo là có Ông thần bếp đang trông nhà, lại lạch cạch với dao, với thớt, với rơm rạ để cho ra bữa ăn đầu năm đầm ấm…
Nghe những thanh âm quen thuộc ấy vào năm mới, tôi chạy xuống bếp, thấy mẹ đang hì hụi đun nấu. Tôi dụi mắt: “Sao mẹ dậy sớm thế?”. Mẹ chỉ cười hiền: “Phải dậy sớm để cả năm cũng sẽ dậy sớm và khỏe mạnh con ạ”.
Không biết mẹ nói thật hay đùa nhưng đúng là tết năm nào mẹ cũng là người dậy sớm nhất nhà. Cả năm làm rồi, tết nghỉ ngơi cho sướng nhưng mẹ bảo ngày đầu năm phải nhanh nhảu thì cả năm trời mới suôn sẻ, thuận lợi được.
Chưa đến tết nhưng tôi đã lên lịch đi chơi sẵn từ trước đó. Mùng một đi chơi với bạn, mùng hai đi tết thầy cô, đến mùng 3 thì chúc tết nhà họ hàng. Đối với tôi thì tết là dịp để thảnh thơi, chơi cho bõ những ngày học hành vất vả. Lúc nào tôi thấy đói thì lủi về nhà, ăn vội bát cơm rồi chạy biến. Tôi ăn hồn nhiên và vô tư như mọi ngày. Tôi quên mất rằng mẹ vẫn đang tận tụy với cái bếp rơm.
Tết của mẹ là cái bếp kiềng ba chân với rơm rạ, với nhọ nồi đen nhẻm. Tết của mẹ là nồi niêu, là hành tỏi, cải bắp, là những món ăn dân giã đầu năm cúng tổ tiên. Tết của mẹ là đi ra đi vào, “hai tay cầm củ xu hào”. Mẹ đã làm bạn với cái bếp lửa quen thuộc bao năm, cho bố con tôi những bữa ăn đạm bạc, chưa lúc nào thấy mẹ thở than, nghỉ tay. Với bố con tôi, mẹ lúc nào cũng dịu dàng, dịu dàng từa tựa và chất chứa trong từng món ăn mẹ nấu.
Bố đã mua bếp ga để mẹ đỡ vất vả nhưng mẹ vẫn giữ cái bếp kiềng lại. Mẹ bảo không khí gia đình có ấm áp hay không là ở cái bếp; dùng bếp ga không quen lại tốn tiền, cứ thổi cơm bằng bếp rơm là ngon nhất, cơm vừa dẻo lại thơm. Mẹ vẫn giữ thói quen làm ấm ngôi nhà với niêu cơm nấu bằng rơm rạ, bằng những lớp nhọ nồi bám trên đôi bàn tay gầy sạm.
Mẹ bảo bếp kiềng chính là Ông thần bếp nên phải được trân trọng. Ngày xưa bà Ngoại cũng nói với mẹ thế! Cái bếp kiềng này là bà Ngoại mua cho mẹ từ cái ngày mẹ đi lấy chồng. Người ta tặng tiền, tặng vàng làm của hồi môn, còn bà Ngoại tặng mẹ cái kiềng ba chân để giữ ấm cho khuôn bếp mỗi ngày. Cũng đã mấy chục năm rồi mà cái bếp kiềng ba chân của mẹ vẫn vững chãi.
Trong câu chuyện của mẹ luôn có đâu đây lời bà Ngoại nói, thi thoảng mẹ lại bóng gió nói lại cho chị em tôi nghe. Mẹ bảo con gái lớn là phải biết bếp núc, phải nhóm lửa sưởi ấm cho ông thần bếp để nhận được hạnh phúc cả năm.
Tôi từng nghĩ mẹ quê mùa, mê tín. Nhưng dần dà tôi hiểu rằng trong cái mê tín, quê mùa của mẹ là cả sự bao dung, chân chất của một người mẹ vì gia đình. Bếp rơm luôn rực hồng, mẹ bảo lửa mang lại cái “đỏ” cho cả năm. Một lát sau thì mẹ đã dọn xong bữa cơm cúng gia tiên đầu năm mới.
Mùng hai, mẹ lại châm lửa vào nhúm rơm khô. Mẹ bảo năm mới phải ăn cơm mới, phải nấu nhiều để cả năm no đủ. Nhất là đầu năm cơm phải dẻo ngon, gia đình mới yên ấm, bình lặng và hạnh phúc. Ông thần bếp của mẹ đã cho bố con tôi những bữa cơm dung dị như thế đấy!
Mùng ba, lửa trong căn bếp nhà tôi lại đỏ…
Nguyễn Thị Phinh

Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

THƯƠNG NGƯỜI VẤT VẢ CHO CÂY CÀ PHÊ *Diệu Lài

Hoa cà nở trắng xóa trong buôn Trấp sau đợt tưới đầu tiên...
THƯƠNG NGƯỜI VẤT VẢ CHO CÂY CÀ PHÊ
*Diệu Lài
Hôm nay con quẹt nước mắt khi thấy hình ảnh một người kéo ống tưới cà phê, con nhớ tới bố, nhớ dáng người gầy đen oằn mình kéo ống tưới cà, với một hy vọng cho vụ mùa bội thu. Bố mẹ! Con cảm ơn bố mẹ thật nhiều khi đã nuôi chúng con khôn lớn nên người. Có lẽ con không thể nào đếm hết được những sự hy sinh vất vả mà bố mẹ dành cho chúng con.
Con biết bố hy sinh cho chúng con nhiều lắm, cả đời bố gần 60 tuổi vẫn bám lấy rẫy nương xung quanh bốn bể là rừng núi để kiếm lấy tiền cho chúng con ăn học. Con cũng biết, mẹ hy sinh cho chúng con thật nhiều, là cô giáo nhưng mẹ nào đâu có được quần là áo lượt như bao người khác. Xong tiết dạy là chạy vào rẫy, bàn tay mẹ chai lỳ vì cầm cuốc làm cỏ cà phê. Mỗi lần cầm bàn tay mẹ, lòng con xót xa lắm, nhựa cà phê làm vàng đôi tay mẹ, những vết chai sần cộm lên, con đủ hiểu mẹ đã hy sinh cho chúng con thể nào.
Năm anh chị em chúng con khôn lớn, học hành nên người như ngày hôm nay, con biết rằng bố mẹ đã chịu vất vả nhiều lắm. Con nhớ tết năm nao, cứ 30 tết bố mẹ lại lục cục kéo ống đi tưới cà phê. Nhà mình không có tiền mua rẫy gần, bố mẹ mua tận nơi gần núi. Nước khan hiếm, đợi họ kéo máy về bố mẹ lại kéo máy đi tưới.
Ba ngày tết, bố mẹ lại cặm cụi tưới cà phê, bố dáng người nhỏ bé, gầy còm, oằn mình kéo ống. Bố đi tới đâu bàn chân lún sâu tới đó, lưng lại còng thêm, cái ống nước như oằn trên vai bố, có lẽ hình ảnh đó con không bao giờ quên bố ạ. Gần như quãng thời gian năm anh chị em đi học, là gắn liền với khoảng thời gian bố và mẹ không bao giờ có một cái tết trọn vẹn. Buồn lắm!
Con từng ước gia đình mình có một cái Tết bố mẹ không phải tưới cà phê. Con từng ước gia đình được sum vầy trong những ngày tết. Làm thật vất vả nhưng bữa cơm của bố mẹ chỉ có con cá khô mặn, bao nhiêu tiền đều gửi cho chúng con ăn học nơi phồn hoa đô thị.
Con nhớ lắm, bữa cơm có mỗi quả trứng bố dành hết cho con, bố dầm muối trắng và ớt đỏ ăn, bố gật gù khen ngon mà lòng con đắng ngắt. Con nhớ lắm, dưới cái nắng như muốn xé vào da thịt nhưng ở giữa quả đồi con vẫn thấy tấm lưng đen bóng của bố đang cuốc cỏ cà phê. Con vẫn nhớ lắm, bố nhường cho con bắp ngô, khi trời mưa mẹ chưa kịp mang gạo vào rẫy. Con nhớ lắm, bố mẹ chỉ dám ăn đầu cá, còn nhường phần thịt cho chúng con ăn.
...
Con đắng lòng khi nghe thấy hai chữ mất mùa, vì con biết người dân quê hương mình chỉ có nguồn thu nhập chính từ cây cà phê. hai chữ mất mùa, mà lòng con quặn thắt. Con lại nhớ năm xưa mẹ từng nén tiếng thở dài khi nghe thấy hai chữ mất mùa. Chúng con tuy ở nơi xa, cuộc sống đầy đủ hơn nhưng tận đáy lòng, quẹt nước mắt vào trong, đắng lòng hướng về Ban Mê Thuột xa xôi. Thầm ước mong đừng có ai đó đói lòng trong cái tết Nguyên đán sắp đến này. Nhớ, yêu lắm dân mình, Ban Mê Thuột ơi!
Diệu Lài

NHỚ NGÀY XƯA ĐI CẤY LÚA *Hoàng Hà Thế

Người ta đi cấy lấy công
Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề (cadao)
NHỚ NGÀY XƯA ĐI CẤY LÚA
*Hoàng Hà Thế
Quê tôi nay đã vào mùa vụ lúa đông xuân, trên cánh đồng người nông dân bắt đầu gieo sạ lúa. Chiều nay trên đường đi làm về ngang qua cánh đồng quê tôi, bỗng nhớ lại hình ảnh ngày xưa mẹ tôi lom khom cấy lúa trong cái se lạnh gió bấc và mưa phùn cuối đông sót lại và ba tôi oằn vai bì bõm gánh mạ thuê ra đồng bỗng hiện về mồn một; trong tôi tự thầm “bây giờ ở quê tôi mất hẳn ruộng lúa cấy!”
Ngày xưa ở vùng nông thôn, một mùa cấy lúa chỉ khoảng hơn mười lăm ngày là kết thúc, nhưng đối với mẹ tôi và bao bà mẹ khác ở vùng quê xem đó là một nghề hẳn hoi. Sau những ngày cấy vần công cho nhau, mẹ tôi cũng vào nhóm “thợ cấy” trong xóm tranh thủ đi cấy lúa mướn ở các thôn lân cận. Mẹ thường nói với ba là tranh thủ đi cấy để kiếm ít tiền mua cho con cái áo mới mặc tết. Giờ nhớ lại cảnh mẹ khom lưng trong chiếc áo tơi lá, chân ngâm trong bùn lạnh, tay lách tách trong nước cấy từng rẻ mạ non... mà thương mẹ vô cùng.
Theo lời mẹ kể, cấy lúa không phải là việc dễ đối với người phụ nữ nông thôn sống bằng nghề làm ruộng. Muốn cấy lúa giỏi, mới chín mười tuổi mẹ tôi đã theo ngoại ra đồng tập cấy.
Quê tôi ngày vào mùa cấy vụ lúa đông xuân, khi trời còn tờ mờ đất đã nghe tiếng của thím bốn, thím tám í ới gọi mẹ chuẩn bị ra đồng. Trong ngái ngủ tôi thấy mẹ mặc thêm chiếc áo và trùm chiếc khăn len lên đầu, tôi hỏi: "Sao đi sớm vậy mẹ?". Mẹ nói: "Ruộng xa, giờ đi ra đấy là vừa sáng, đi sớm tranh thủ cấy thêm vài công...". Nằm nghe bước chân của mẹ xa dần ra ngoài đầu ngõ, trong lòng xốn xang thương mẹ nhưng biết làm sao. Sau này nghĩ lại cảm giác đó, tôi mới hiểu, không riêng gì mẹ tôi mà cả người dân quê tôi còn vất vả quá.
...
Hình ảnh mẹ tôi đi cấy lúa ngày xưa chỉ còn trong miên viễn. Anh em chúng tôi lớn lên từ hạt lúa đồng quê, những mùa cấy ngày nào của mẹ giờ đã lùi xa vào ký ức...
HOÀNG HÀ THẾ

Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

CHỢ LAN BAN MÊ

Gùi lan rừng xuống phố...
CHỢ LAN BAN MÊ
Khách phương xa khi ghé thăm Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc) không thể bỏ qua khu chợ bán lan rừng nổi tiếng họp ở khu vực gần Biệt điện Bảo Đại.
Có nhiều giống lan rừng độc đáo không nơi nào có là Nghinh xuân Buôn Đôn, nở rộ vào mùa xuân, đúng dịp Tết âm lịch nên rất được ưa chuộng. Không chịu kém cạnh về độ sốt đó là loại Long Tu xuân cũng nở vào mùa xuân nhưng dạng chuỗi. Còn những loại nở vào mùa hè thì vô số, đến vài chục loại.
"Tiểu thương" chợ lan phân thành hai loại: chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. Anh Tuấn, chủ một sạp lan cho biết: "Thấy thế này thôi chứ vốn liếng đổ vào đây nhiều lắm. "Làm vua chơi lan, làm quan chơi trà" mà. Có ngày bán được mười mấy triệu tiền lan đấy chứ, dân địa phương cũng thích mà du khách thập phương cũng mến". Anh Tuấn giải thích: Tiểu thương chuyên nghiệp là người chuyên nhập sỉ các loại lan rừng ở Đắc Lắc hay các tỉnh phía Bắc vào bán, bất kể mưa gió, ngày nào cũng có mặt. Còn bán chuyên nghiệp là đồng bào Ê Đê, M' Nông... ở tít các huyện vùng sâu, vùng xa làm nghề lấy lan rừng mang lên phố bán.
Dạo một vòng chợ lan, nghe đủ âm thanh mời gọi mua hàng, những người dân tộc bản địa với làn da rám nắng, nụ cười tỏa nắng có thể bán cho bạn mà không cần mặc cả, đôi khi còn khuyến mại thêm một số loại cho khách phương xa. Chợ không chỉ là nơi mua bán, mà còn là nơi trao đổi kinh nghiệm về trồng lan rừng. Bán cho khách một nhành lan, người bán không ngại khi dành riêng cho "thượng đế" mươi mười lăm phút để tư vấn về cách chăm sóc. Về chiều, chợ càng đông đúc.
Một thú chơi tao nhã đã in sâu trong tiềm thức người cao nguyên. Cũng từ lâu, chợ lan nơi đây đã trở thành một điểm du lịch "ngoài tour" của các đoàn khách khi đến với thành phố cao nguyên này.
Tứ Đức

TỤC XIN XĂM NGÀY TẾT *Ngọc Hiệp Phạm

Một nét văn hóa dân gian...
TỤC XIN XĂM NGÀY TẾT
*Ngọc Hiệp Phạm
...
Khi xưa ngày xuân đến lễ tại lăng Ông, có lẽ các bà các cô không thể bỏ qua tục xin xăm. Xăm, theo Việt Nam Tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức giải nghĩa: Que thẻ xin thần thánh ứng cho để biết việc tương lai. Xăm ở lăng Ông gồm 100 thẻ tre bỏ vào một ống, trông tựa như những chiếc đũa trong ống đũa, mỗi thẻ đánh môt con số. Trước khi xin xăm người xin quỳ lạy, khấn vái Ông, sau đó cầm nghiêng nghiêng xóc chiếc ống đựng thẻ, cho tới khi rơi ra một thẻ. Thẻ này có ghi số, người xin nhìn và nhớ số rồi ra nói số, người ở lăng sẽ phát cho một lá xăm ứng với con số mình được. Lá xăm có 2 măt, một mặt ghi theo âm Hán Việt, một mặt ghi chữ Việt, trong lá xăm có ghi những điều tốt, xấu của mình trong năm về đủ mọi mặt. Nghe nói trong 100 lá xăm (ứng với 100 thẻ trong ống), có 1/3 là lá xăm tốt, 1/3 là lá xăm trung bình có tốt có xấu, còn 1/3 là lá thăm xấu. Người gặp được lá xăm tốt dĩ nhiên rất vui mừng, gặp lá xăm trung bình cũng tạm được, còn nếu gặp lá xăm xấu chắc chắn sẽ không mấy vui, thường người ta mang lá xăm xấu đi hóa (đi đốt).
Ngày xưa gần như chỉ có các bà, các cô dẫn theo con cháu đi lễ lăng Ông và xin xăm, quý ông có đến lăng cũng không tham gia. Ngày nay tục xin xăm vẫn còn thấy tại lăng Ông, nhưng quý ông tham gia xin xăm khá nhiều, cũng thành tâm quỳ lạy và xóc xin thẻ, không kém gì quý bà.
Cùng với tục xin xăm còn có tục xin keo, cũng còn gọi là xin âm dương... Xin xăm là xin lá xăm có ghi vận mệnh may, rủi của mình trong năm, còn xin keo là khi người ta muốn cầu một việc gì quan trọng, chẳng hạn việc thi cử, lấy chồng lấy vợ, làm ăn buôn bán... cũng quỳ thành tâm khấn vái, và cầm 2 miếng gỗ âm dương lên thả rơi xuống chiếu (nếu là 2 đồng xu thì cầm lên và bỏ rơi vào chiếc đĩa). Nếu 2 miếng gỗ rơi xuống có một miếng xấp một miếng ngửa (2 mặt khác nhau, một âm một dương), hoặc 2 đồng xu ra 2 mặt khác nhau thì coi như mọi việc hanh thông, việc cầu xin của mình sẽ có kết quả tốt. ...
Đây là một tục lệ xưa lâu đời, phát xuất từ Đạo giáo, cũng là một nét văn hóa dân gian, nhưng có lẽ cũng không nên quá tin tưởng vào cái tục mang nhiều nét may rủi này.
Ngọc Hiệp Phạm