Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018

HOA ĐỖ MAI

Trên đường vào Buôn Trấp... có loài hoa báo hiệu mùa xuân nở bung lên bầu trời một màu hồng tươi...
HOA ĐỖ MAI
Không rực rỡ như dã quỳ, không thướt tha như cỏ đuôi chồn, hoa đỗ mai mang một vẻ đẹp yên bình, nhẹ nhàng đầy lãng mạn... Từng cành cây khẳng khiu vươn thẳng lên bầu trời đầy kiêu hãnh, trĩu những chùm hoa tựa như những bông pháo hoa màu hồng phớt điểm tô thêm sắc màu cho Phố núi vào xuân.
Thu Linh (Hoa đỗ mai Phố núi)
...
Người yêu vẻ đẹp thần tiên của hoa còn âu yếm gọi Đỗ mai là Anh đào núi như một sự trân trọng vẻ đẹp mà hoa đã tô điểm cho núi rừng mỗi dịp xuân sang. Nhìn xa thì rừng hoa Đỗ mai giống Anh đào nhưng khi nhặt từng cánh hoa, nhìn kỹ thì hoa đỗ mai khác hẳn hoa anh đào về hình dáng. Cánh hoa đào tách riêng biệt, và bằng nhau, cùng gắn vào một nhị ở giữa. Còn hoa Đỗ mai mọc thành từng chùm, màu hồng nhạt hoặc màu trắng tinh khôi. đài hình chuông hay có 5 thùy nhỏ hình răng cưa, tràng có cánh hình mắt chim. So với cái vẻ rực rỡ của hoa Mai, vẻ yểu điệu của hoa đào thì Đỗ mai có vẻ đẹp dịu dàng, đáng yêu và hiền lành hơn. Hoa nhỏ xinh, như nụ cười e ấp, duyên dáng của cô học trò tuổi mười lăm. Nhìn xa xa, cành phủ kín hoa như một đàn bướm nhỏ xinh khẽ đậu, thi thoảng gió đưa mạnh cánh hoa lại rụng lả tả. Đỗ mai chỉ đẹp khi còn nguyên vẹn trên cây, nếu bạn cố công hái xuống, hoa sẽ bị rụng lả tả, mất đi cái vẻ đẹp.
Nếu bạn có dịp lên phố núi vào những ngày đầu xuân, đừng bỏ lỡ dịp ngắm hoa Đỗ mai đang mùa rộ nở. Hoa Đỗ mai vốn là sắc hoa của núi rừng, trước đây mọc tràn ngập trên những vùng núi xa, nhưng gần đây đã được người ta đem về trồng quanh nhà, vừa làm hàng rào vì lá xanh mát quanh năm, đến gần tết lại có hoa đẹp để thưởng ngắm. ... Đỗ mai có mùi thơm rất nhẹ và kín đáo, phải chú ý lắm bạn mới có thể nhận thấy, bởi vậy những ngày hoa nở là lúc ong bướm tìm về, rập rợn vây quanh. Càng nắng gió khắc nghiệt, Đỗ mai càng vươn lên mạnh mẽ, những ngày mùa khô, đất đai khô hạn, Đỗ mai lại càng khoe sắc lung linh. Từng cánh Đỗ mai mỏng manh, tưởng như chỉ một làn gió thoảng có thể làm rơi rụng hết, thế mà sức sống lại mãnh liệt vô cùng.
...
Hoa Đỗ mai không phải là loài hoa quý phái cần được yêu chiều, chăm sóc công phu, cũng không phải loài hoa rực rỡ đốt cháy mùa Xuân. Đỗ mai là chỉ là hoa giản dị, với màu hồng nhẹ tỏa sức duyên ngầm, hương thơm ý nhị. Sức sống mãnh liệt và sắc hoa dịu dàng đã điểm tô cho những cánh rừng xanh bạt ngàn của vùng đất Tây Nguyên thêm vẻ đẹp, thêm ấm áp mỗi khi xuân về.
Hà Oanh (Dịu dàng màu hoa Đỗ mai)

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

CÁ SẤU NƯỚC NGỌT

Những cánh đồng Buôn Triết, Buôn Trấp... một thời được mệnh danh là Đồng Tháp Mười trên Cao Nguyên.
CÁ SẤU NƯỚC NGỌT
Vào khoảng những năm 40, một nhóm ba người Miên sang Bạc Liêu đánh bạc với các công tử. Thua bạc trắng tay, không còn tiền về quê, nhóm người này bèn rủ ông Năm Niên lên cao nguyên… đánh cá! Sẵn máu giang hồ, ông Năm Niên gật đầu đi theo.
Họ đưa ông lên cao nguyên, dẫn tới một vùng đầm lầy hoang vu không khác đồng Tháp Mười. Đấy chính là cánh đồng buôn Triết rộng hơn 1.000ha. Thuở đó, buôn Triết hoang vu không một bóng người. Nhóm người Miên được ông Năm Niên trả tiền “chỉ điểm” về quê.
Một mình ông quyết ở lại vùng đất này lập nghiệp. Tên gọi Eo Đờn mang đậm chất Nam Bộ xuất phát từ ông Năm Niên. Đó là một bàu nước thông ra dòng Krông Ana. Ông Năm Niên nổi tiếng với tài nghệ bắt cá sấu còn truyền tụng cho đến bây giờ.
Năm 1979, tại hồ Eo Đờn, người đàn ông Nam bộ này đã bắt được một con cá sấu nặng trên ba tạ, mình đóng đầy rêu khiến người dân địa phương khiếp vía...
( Trích đoạn "Đồng Tháp Mười trên Cao nguyên" của Nguyễn Minh Sơn )
-oOo-
Ký ức tuổi thơ tôi gắn liền với đoạn sông Krông Ana, một trong hai chi lưu của sông Sêrêpôk dồi dào tôm cá, dào dạt chảy dưới tán rừng bốn mùa hoa lá muôn màu. Phía thượng nguồn, giữa um tùm lau lách có một đầm lầy khá rộng gọi là Bàu Sấu. Ở đó, mỗi sáng hàng trăm con cá sấu trườn lên bờ ghếch mõm tựa lên tấm lưng sần sùi của nhau phơi nắng. Bầy trẻ nghịch ngợm mấy cũng chẳng dám lại gần, chỉ len lén trèo lên ngọn cây tít xa ngó lại, chỉ thấy những tảng vảy nâu đen lổm ngổm xê dịch như đống củi mục biết bò.
Bàu Sấu bình yên chẳng bao lâu thì những công nông lâm trường mọc lên quanh vùng. Sau mỗi tiếng mìn nổ phía bàu, bao giờ cũng có những nhóm người khiêng hoặc gánh những con cá sấu nặng hàng tạ, đuôi dài thõng thượt vào xóm làng rao bán. Kèm theo đó còn có rùa, rắn, ba ba, nhiều loại đặc sản khác như cá lăng đuôi đỏ, cá trà sóc, sọc dưa, mõm trâu, loài nào thịt cũng thơm ngon, dai giòn, trắng mịn …
Ba mươi năm trôi qua, khi xã hội đã ngấm dần ý thức phải ngăn chặn các kiểu khai thác mang tính hủy diệt như ném mìn, rà điện, đánh lưới dày mắt, khai thác vào mùa sinh sản v.v…thì nhiều đoạn sông đã chẳng còn loài đặc sản nào tồn tại.
Bảo tàng Thiên nhiên VN khẳng định: cá thể cá sấu Xiêm cuối cùng trên đất Việt đã bị giết chết tại bàu Hà Lâm huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên từ cuối năm 2012. Có nghĩa là loài cá sấu Xiêm hoang dã đã bị ít nhất một cơ quan chức năng tuyên bố công khai là tuyệt chủng trên mọi vùng miền đất nước ! Ngay tại những vùng quy hoạch bảo tồn mà Chính phủ phê duyệt từ lâu dự kiến sẽ xây dựng trên Tây Nguyên như Bàu Sấu, hồ Lắk, loài cá sấu Xiêm cũng đã biến mất hẳn trước khi khu bảo tồn hội tụ đủ điều kiện để được công nhận.
( Trích đoạn " Tìm đường sống cho cá quý nước ngọt" của Hoàng Thiên Nga )
*Cá sấu Xiêm (tên khoa học Crocodylus siamensis ), còn gọi là cá sấu Thái Lan hay cá sấu nước ngọt, là loài cá sấu nước ngọt có nguồn gốc ở Borneo, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Thái Lan và Việt Nam

CON CHIM GIÀ SÓI *Sơn Nam

Tháng chạp chim về ...
Tháng chạp chim về ...
CON CHIM GIÀ SÓI
*Sơn Nam
Nó hiện ra từ mí rừng phía đông. Ban đầu chỉ là một đốm đen. Ngỡ đó là con chim đầu đàn, tôi chờ đợi những con khác bay theo sau nhưng tôi ngạc nhiên:
- Con diệc này sao bay về có một mình? Thường thường nó bay về nhiều lắm, sắp thành hai hàng như mũi tên, phải không ông Tư?
- Không phải! Không phải đâu!
Ông Tư trả lời cho có chừng. Mắt ông nhướng lên, theo dõi đốm đen cô độc nọ. Ông bước tới bước lui, quay tròn vòng rồi la lên mừng rỡ:
- Nó đó mà! Tội nghiệp quá. Năm nào cũng như năm nào…
Trên ngọn cây gòn, kìa một con chim to tướng đen thui, đầu có đốm trắng, cao nghệu như đứa trẻ lên mười tuổi. Mặt trời đã gác lên mí rừng dọi lên lông cánh của nó, mướt rượt.
- Năm nay nó già đi nhiều… Tội nghiệp!
Khỏi cần lượn vòng quanh, nó cũng nhìn được con rạch Ðường Sân này…
Nóng ruột tôi hỏi:
- Con chi gì mà coi dữ quá vậy ông Tư?
- Con chim già sói. Thứ này bây giờ ít lai vãng tới miệt Cạnh đền này, chớ hồi đó thì ôi thôi…
...
Vùng Rạch Giá, Hà Tiên nổi danh là nơi tập họp nhiều sân chim, của trời đất dành riêng cho. Từ vàm đến ngọn sông Cái Lớn, bao nhiêu là sân: sân Cái Nước, sân Thầy Quơn, sân Thứ Nhứt… Ðó là chưa kể mấy sân ở giữa rừng mà chưa ai bước chân tới. Từng vùng rộng chừng mười ngàn thước vuông, tụ tập hàng vạn con chim lớn.
Chúng nó sanh sôi nẩy nở, tạo lập một thế giới riêng biệt náo nhiệt, ở khắp nhành cây và mặt đất. Dân chúng kéo đến các sân chim này để bắt chim, nhổ lông bán cho ghe buôn từ Hải Nam đến, họ mua về để kết quạt. Ta có thể chia hai loại chim: thứ làm ổ trên cây và thứ làm ổ trên mặt đất.
Làm ổ trên cây thì có chim chàng bè, chim già sói, chim chó đồng. Làm ổ dưới đất thì co chim bồ nông là đáng kể.
...
Ðất hoang, rừng rậm lần lần được khai thác ở vùng Kiên Giang. Vì động đất động rừng, chim bay đi, bỏ sân cũ.
Chúng bị tiêu diệt lần lần. Số chim còn lại bay về đâu? Ngày nay cùng Rạch Giá, Cà Mau còn vài sân chim. Nhưng toàn là cò, diệc, cồng cộc, loại chim nhỏ.
Vài con chim còn nhớ sân cũ, hàng năm cứ tới tháng Chạp là bay về. Như con chim già sói này trở về rạch Ðường Sân.
Và ông Tư – Ngưòi giúp chúng tôi những tài liệu trên đây – hồi còn trai tráng chính là người “bạn giữ sân” và người “bạn giết” – hai danh từ xa xăm mà không ai nhắc tới nữa.
- o O o -
Con chim già sói đứng cao nghệu trên cây gòn, day mỏ qua phía nhà ông Tư.
Ông Tư đứng tần ngần, lấy tay che mắt nhìn nó, cố sức nhìn kỹ từ nét mặt như hỏi han sức khoẻ của người bạn già quen thuộc, biết giữ thủy chung đạo bằng hữu.
Ông nói:
- Mấy chục năm rồi, năm nào tháng Tết nó cũng về đây vài ngày. Năm nay nó già nhiều rồi. Ðầu sói hơn mọi năm, cháu thấy không?
Như lời ông Tư, tôi thấy rõ ràng một đốm trắng ở giữa đầu con chim nọ. Là kẻ sanh sau đẻ muộn tôi nào gặp con chim này hồi mấy mươi năm về trước để so sánh cho biết nó già nhiều hay già ít? Mặt trời gần lặn rồi, nền trời đỏ khé. Con già sói đứng sững đó, im lìm như đúc bằng đồng đen, phía sau có hào quang.
Nó nhìn ông Tư, râu tóc bạc phếu.
Ông Tư nhìn nó. Có lẽ ông nghĩ đến phận mình mà nảy sinh ra bao mối cảm hoài. Trong con tim già, qua thời gian, giờ đây chắc chắn đã lắng xuống hết bao hung bạo của thời xuân xanh của ông và của đất nước hoang vu. Giữa ông và con chim nọ, không còn oán thù. Biển im lặng sau cơn giông tố. Ðây là Bá Nha với Tử Kỳ cảm thông nhau. Cầu cho ông Tư với con chim già sói được sống lâu hơn trăm tuổi! Xin tạ ơn đấng tạo hóa đã dành cho đất nước này bao nhiêu đặc ân như những sân chim đây là một. Hiên ngang thay! Ðẹp đẽ thay! Hỡi người Việt đầu tiên đến vùng Kiên Giang hưởng ơn Trời lộc Nước mà khai phá miền Nam...
Sơn Nam
(Trích đoạn trong truyện ngắn "Tháng Chạp Chim Về" của Sơn Nam đăng trên http://langmanmientay.com/cms/news/)
*Với dáng đứng gù gù cùng cái đầu hói và vài chỏm “tóc” muối tiêu lơ thơ sau gáy, chúng gợi lên hình ảnh của những cụ già khắc khổ…
Đó là những lời có thể dùng để miêu tả về già sói (còn gọi là già đẫy Giava), một trong những loài chim quý hiếm nhất của Việt Nam cũng như toàn thế giới... (theo Báo Mới)


KÝ ỨC NHÀ SÀN * Bùi Việt Phương

"Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới..."
KÝ ỨC NHÀ SÀN
* Bùi Việt Phương
Những con suối, con mương nhỏ lấp lánh nắng vàng lượn lờ bên những thửa ruộng xanh mướt mát. Biết là thế nhưng từng chấm nhỏ nhà sàn như chú rùa con xinh xắn vẫn là một dấu hỏi của miền Tây Bắc huyền bí.
...
Khuất sau rặng tre, ngôi nhà khiêm tốn ánh lên màu thời gian của những thăng trầm của cả một dòng họ, gia tộc đã sống dưới mái nhà này từ rất lâu đời. Không to tát, cầu kì như những căn nhà trong bảo tàng văn hoá, nhưng từ cầu thang, gác bếp, từng ô cửa toát lên một cái gì đấy rất chân phương của một đời sống nông nghiệp bản địa.
Bên mé nhà là tre trúc, trước mắt nhìn ra là những cánh đồng và sau lưng là những khu rừng đồi thâm u, bí ẩn. Người con gái của gia chủ kể rằng, những ngày nắng đẹp, cô thường lên bìa rừng thả trâu. Tiếng là thả nhưng thực ra những đàn trâu ấy vẫn sống hoang dã trong rừng. Trâu nhà mình có bao nhiêu con, đẻ bao lứa cô không rõ.
Chỉ biết là mỗi bận cô sinh viên của xóm nhỏ ấy lên rừng thì con trâu đầu đàn thường khịt mũi như đánh hơi hay reo mừng bước đến cọ sừng vào tay cô để nhận chủ. Nó là con trâu đực đẹp mã, tốt tướng và dũng cảm nhất. Nó đi đâu cả đàn lục tục theo sau gặm cỏ. Nhờ nó có sức khoẻ vượt trội mà đàn thường dành được những thảm cỏ xanh non hơn, cặm cụi ăn được lâu hơn sau những cuộc tranh chấp lãnh địa nảy lửa.
Hoang dã là vậy nhưng mỗi năm, vào mùa ít thức ăn nhất, trâu đầu đàn thường dẫn cả đàn tìm về nhà chủ. Những bóng trâu đồ sộ, đen bóng lừng lững bước qua dưới mép sàn không quên ngước nhìn lên chân cầu thang hay cửa voóng nơi cả nhà đang quay quần bên ấm trà xanh. Đàn trâu ấy lại ra đi sau chừng một tháng. Trở về với rừng lại kiếm chỗ khô ráo, kiếm lớp lá dày để nằm như chưa từng biết đến gầm nhà sàn ấm áp.
Một tĩnh và một động. Không biết mùa đông sau sẽ có bao chú nghé mới mẻ lần đầu ngơ ngác theo mẹ trở về nhà chủ. Chân gõ móng lên nền đất ấm, cọ lưng vào cột sàn mà ngoe nguẩy chiếc đuôi bé nhỏ. Ở phía trên kia một tiếng khóc thơ bé, tiếng bi bô của trẻ lên ba bên bếp lửa. Tất cả dường như thấp thoáng đâu đây, vẳng vẳng bên tai.
Tôi đã để ý rất kĩ lối đi lên từng bậc cầu thang. Đọc trong cuốn sách nào đó người ta nói là lối đi ấy đất sẽ mòn, đá sẽ vẹt, cỏ không mọc được bởi tiếng chó sủa thâu đêm hay bởi nhiều bàn chân trai mường đứng ngóng đợi.
Đã bao nhiêu ánh mắt thần thờ, nuốt nghẹn nhìn lên lối cầu thang ấy, dánh nhà sàn mờ tối trong đêm ấy để rồi khác khoải quay đi tìm đến một ngả rẽ mới trong niềm thất vọng. Lại cũng đã có bao trái tim người trai mới lớn đập hồi hộp chờ đợi trong lần hẹn đầu tiên bên lối đi này. Ngôi nhà sàn ấy là ngôi đền thiêng, là chứng nhân cho bao cuộc tình, cuộc chia li, bao cuộc đổi thay của đời người.
Bàn tay cụ bà run run rót chén nước trà xanh vào chiếc chén thuỷ tinh. Đôi mắt cụ còn sáng, còn tỏ tường và thoáng buồn của người từng chứng kiến bao thay đổi của mường trong xóm ngoài. Từng khúc cua, từng con mương, thửa ruộng cụ đều nhớ tên hay đặt cho nó một cái tên bằng những kỉ niệm gắn với những người thân thuộc.
Bờ ruộng nào ông cậu say rượu đã trượt chân hôm trong ngày cưới của mình. Con mương nào từng đứa con của cụ hay ra câu cá…Cụ kể xưa kia xóm trên, xóm dưới có nhiều nhà sàn lắm. Cụ ông khi đó là con thứ chỉ xin một góc vườn nhỏ, ít gỗ lạt dựng căn nhà này để xây dựng tổ ấm mới. Trong bữa cơm mừng nhà mới đạm bạc với cá nấu măng chua, ít thịt lợn luộc chấm muốn hạt dổi bác thợ cả nói đùa: Các cháu ở tạm thế này, mai kia ăn nên làm ra phải làm cái nhà to đẹp, choáng hết khu đất kia mới phải.
Câu nói đùa ấy không ngờ lại thành một chuyện không bao giờ xảy ra trong cuộc đời. Cho đến màu thu năm ngoái, khi cụ ông về với mường ma, ngôi nhà sàn nhỏ vẫn là nơi tiễn ông. Khi ấy, từng mảnh ván như cong lên, lạnh lẽo hay oằn lên đau đớn. Bếp lửa vẫn cháy nhưng ngọn khói như gày hơn, ánh lửa chập chờn như tiếng nấc.
Khi ấy đàn trâu ở đâu nhỉ. Ngoài bìa rừng vắng lặng, chúng đang theo con trâu đực đầu đàn gặm cỏ, đang chứng kiến một cuộc chiến nảy lửa của thủ lĩnh hay đang chụm đầu im lặng chờ đợi cuộc sinh hạ một chú nghé con. Chỉ biết rằng, mùa rét năm ấy đàn trâu về lại dưới gầm sàn muộn hơn. Cô bé đợi một chiều, rồi hai, ba chiều mà vẫn không thấy những tấm lưng đen bóng như sóng cuộn về đầu ngõ. Đàn trâu cũng bỏ đi, đã quên lối về hay gầm sàn không còn đủ ấm cúng để lưu giữ chúng.
Bất giác, cô bé như có cảm giác ngôi nhà sàn của mình đã thật sự già đi, ngõ tre ngày nào như điểm tận cùng của sự quên lãng. Từng bậc cầu thang từng giờ từng khắc mờ dần không còn sáng bóng mồ hôi những bàn chân ghé thăm. Nhưng cuối cùng chúng cũng trở về, cả đàn vào chỗ nằm. Chỉ riêng còn trâu đầu đàn cứ đứng mãi rất lâu ngoài sân cọ sừng vào cột lim bóng nhẫy. Chắc nó đang nhớ cái bóng gày gò nhưng nhanh nhẹn của ông chủ trong bộ quân phục bạc màu hay đang đợi tiếng ho hắng của ông từ đầu ngõ trở về. Tất cả đều lặng lẽ đến thế.
Có những lời hẹn không bao giờ nên, có những lời hứa không bao giờ thành nhưng đọng lại trong lòng người đầy xúc cảm, Nhìn lên vách gỗ ống sáo trúc, cây nhị ghi dấu ấn hoài niệm của một người đàn ông đã từng sôi nổi phong lưu một thời. Giờ đây, trong tiếc xào xạc của rặng tre, gió hanh hao ve vuốt từng thớ gỗ, chợt có một điều gì đó thật khó nói.
Có phải cuộc sống thanh đạm, bình dị và mộc mạc đã đem đến hạnh phúc, tiếng cười trẻ thơ từ những ngôi nhà bẻ nhỏ như thế này. Màu của mò hóng, nước thời gian đã nhuộm lên màu của hạnh phúc.…
Bùi Việt Phương
*Tham khảo thêm trên nguồn http://www.coviet.vn/diendan/

LỄ HỘI SẮC BÙA NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI MƯỜNG

Tiếng cồng chiêng gọi bạn nơi rừng thẳm. Tiếng cồng chiêng vui duyên đôi lứa, ngày hội đầu xuân...
LỄ HỘI SẮC BÙA NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Theo người Mường, sắc bùa còn được gọi là xéc bùa, có nghĩa là xách cồng. Đây là hoạt động không thể thiếu của bà con dân tộc Mường nhân dịp năm mới, cũng là lúc đón khách quý từ xa tới thăm, tạo tình đoàn kết giữa các dân tộc.
Sắc bùa là một trong những phong tục không thể thiếu trong dịp Tết của người Mường xưa. Âm vang cồng chiên, trong đó điểm nhấn là tiếng “khầm” như làn sóng mạnh giúp xua đuổi cái xấu, ma quỷ. Việc diễn tấu cồng chiêng sắc bùa đầu xuân không những tạo nên không khí vui tươi, nhộn nhịp đầu xuân mà còn mang ý nghĩa tượng trưng cho tiếng sấm đuổi quỷ, xua ma, cầu yên lành cho dân làng, tình đoàn kết cộng đồng, cầu mưa thuận gió hòa, mùa mang bội thu.
Sắc bùa thường do những người biết đánh cồng, hát và tự thành lập thành một phường bùa. Một phường bùa gồm 12 người, tượng trưng với bộ cồng chiêng 12 chiếc – là 12 tháng trong năm. Thường, người hát hay, đánh cồng giỏi sẽ đứng đầu phường bùa. Trang phục cho những người sắc bùa không cần cầu kỳ nhưng phải đẹp. Nữ phải mặc váy áo Mường, tay đeo vòng, kiềng, xích bạc, nam mặc áo dài chít khăn đầu rìu.
Sau mùng hai tết, phường bùa sẽ đi sắc các gia đình trong bản và những ngày sau đó có thể đi sắc các bản khác. Phường bùa đi đến đâu, không khí rộn rã đến đó. Những nhà biết phường bùa đang tới thì sẽ chuẩn bị nghênh tiếp. Phường bùa sẽ hát những bài có lời chúc tụng, mong gia đình sang năm mới hạnh phúc, sức khỏe.
Hát xong, gia chủ sẽ mời phường bùa vào nhà và cùng chúc nhau chén rượu năm mới, nhâm nhi các món ăn cổ truyền. Trong men rượu nồng ca, họ hân hoan thi thố tài năng bằng các làn điệu truyền thống. Trước khi ra về, chủ nhà sẽ mang bánh và những thứ quà ngon để tặng thay lời cảm ơn đối với phường bùa. Và cứ thế, phường bùa đi khắp các nhà, mang lại không khí tươi vui cho mùa xuân.
Với ý nghĩa cầu bình yên, cầu nhân khang vật thịnh, cầu bản làng đoàn kết nên sinh hoạt sắc bùa mang đậm giá trị nhân văn, tín ngưỡng phồn thực. Mong rằng, phong tục hát Sắc Bùa này sẽ được lưu giữ và phát triển hơn nữa.

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

Đọc lại bài ca dao của người Mường... MƯỜI TAY

Đọc lại bài ca dao của người Mường... Lời ru con đầy chất dân ca, chứa đựng cả một trời tâm sự của mẹ...
MƯỜI TAY
Bồng bồng con nín con ơi
Dưới sông cá lội, ở trên trời chim bay
Ước gì mẹ có mười tay
Tay kia bắt cá, còn tay này bắn chim
Một tay chuốt chỉ luồn kim
Một tay đi làm ruộng, một tay tìm hái rau
Một tay ôm ấp con đau
Một tay vay gạo, một tay cầu cúng ma
Một tay khung cửi guồng xa
Một tay lo bếp nước, lo cửa nhà nắng mưa
Một tay đi củi muối dưa
Còn tay để van lạy, để bẩm thưa, đỡ đòn
Tay nào để giữ lấy con
Tay nào lau nước mắt, mẹ vẫn còn thiếu tay
Bồng bồng con ngủ cho say
Dưới sông cá vẫn lội, chim vẫn bay trên trời
(Ca dao dân tộc Mường, Cầm Giang dịch)
Lời bình:
...
Người mẹ tần tảo, lam lũ, hết lòng vì con hiện lên với một điều ước thánh thiện: “Ước gì mẹ có mười tay” điều ước mới kỳ lạ làm sao? Nhưng khi được nghe hết lời ru con này ta mới thấm thía sự có lý của điều ước. Cuộc sống khốn khó, bao vất vả nhọc nhằn vây bọc, để chăm chút gia đình, nuôi dạy được đứa con khôn lớn, người mẹ phải lo toan bao công việc, từ “bắt cá”, “bắn chim”, “làm ruộng”, “tìm hái rau”, “ôm ấp con đau”, “vay gạo”, “cầu cúng ma” đến: “khung cửi guồng xa”, “bếp nước”, “lo cửa nhà nắng mưa”, “đi củi, muối dưa”, thậm chí để: “van lạy, để bẩm thưa, đỡ đòn” trước những thế lực áp bức. Có bao nhiêu việc mẹ phải làm và muốn làm cho con và gia đình, bao nỗi lo toan và điều ước có được “mười tay” của mẹ với một mong ước duy nhất là làm thế nào bảo vệ và nuôi con khôn lớn nên người.
Trong cảnh sống nhiều cơ cực ấy, một trong những điều mẹ luôn phải lo lắng ngày đêm là: “Tay nào để giữ lấy con”, cho con một mái ấm bình yên, an toàn trước bao tác động của cuộc sống phức tạp và đầy bất trắc, bởi vậy “mười tay” mẹ ước dường như vẫn không đủ để chăm chút toan lo. Điệp khúc “tay kia'”, “tay này”, rồi lại “một tay”, “một tay”... cứ vang lên day dứt với biết bao công việc hiện ra bề bộn, liên tiếp, dồn dập như một chuỗi dài khổ cực vô tận dồn lên đôi vai gầy của mẹ.
“Ước gì mẹ có mười tay” nhưng thực ra mỗi người mẹ chỉ có hai tay, vậy mà mẹ đã làm tất cả mọi việc cho con, vì con, đó là đôi bàn tay đảm đang vén khéo, đó là đôi bàn tay tần tảo chai sần… nhờ có nghị lực vô song của trái tim yêu thương nên mẹ có một sức mạnh phi thường để vượt lên tất cả. Nếu điều ước mẹ có nhiều tay trở thành sự thật, mẹ vẫn thấy: “Tay nào lau nước mắt, mẹ vẫn còn thiếu tay”, mẹ nuốt những dòng nước mắt khổ đau, tủi hờn vào lòng, dành cho con tất cả những điều tốt đẹp, lòng vị tha và sự hy sinh ấy thật là cao cả. Đó cũng là phẩm chất cao quí của những người mẹ trên thế gian này...
Cuộc sống và sự vận động của khách quan không ngừng trôi chảy, “Dưới sông cá vẫn lội, chim vẫn bay trên trời”, giữa cái vạn biến ấy vang lên lời ru da diết của mẹ, lời ru tự đáy lòng: “Bồng bồng con nín con ơi” rồi “Bồng bồng con ngủ cho say”. Lời ru bình dị mà sâu lắng ngân mãi trong lòng những đứa con suốt cuộc đời, tiếp thêm niềm tin và sức mạnh, là điểm tựa vững chắc cho con. Câu danh ngôn bất hủ: “Tuyệt tác của tạo hóa là trái tim người mẹ” bắt nguồn từ tình yêu vô bờ bến, sự hy sinh không cùng của người mẹ như thế này chăng ?
Bài ca dao “Mười tay” đậm chất thi ca, rất độc đáo, mỗi câu mỗi chữ đều trĩu nặng tình cảm sâu nặng của mẹ. Hình ảnh người mẹ nhân từ, bao dung, hết lòng hy sinh vì con yêu ... Tình mẹ cao cả không bến không bờ, sâu nặng không gì đong đếm được, lòng mẹ là vô tận như suối nguồn tưới mát cuộc đời con. Tình mẹ là biểu tượng thiêng liêng cao đẹp nhất trên thế gian này.
Trần Vân Hạc

CỌN NƯỚC NGƯỜI MƯỜNG - BÁNH XE CỦA THỜI GIAN

Còn cọn quay là còn những nốt nhạc vui mang hồn cây hồn suối, ngân mãi bản tình ca về một miền quê...
CỌN NƯỚC NGƯỜI MƯỜNG - BÁNH XE CỦA THỜI GIAN
Bên dòng suối, những cọn nước như những bánh xe khổng lồ nhẹ nhàng quay hết ngày này sang ngày khác, như một người nông dân hết mực cần mẫn. Cọn nước được ví như “động cơ vĩnh cửu”, quay suốt ngày đêm và có thể đưa nước lên cao tới hàng 7 đến 8 mét, giúp bà con các dân tộc vùng Tây Bắc đưa nước vào các ruộng trồng lúa nước, đưa nước về tận chái nhà để sinh hoạt... Cùng với những phong cảnh tự nhiên, cọn nước đã góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp của vùng núi Tây Bắc.
Những guồng nước như những bánh xe khổng lồ chậm rãi quay đều bên dòng suối đã trở thành nét đặc trưng của nhiều vùng miền. Được thiết kế rất khéo léo từ những vật liệu của núi rừng, những chiếc guồng nước thể hiện khả năng sáng tạo tuyệt vời của đồng bào miền núi trong công cuộc chinh phục thiên nhiên.
Trân trọng và nâng niu những giá trị văn hoá từ cọn nước, nay đã có những cọn nước thu nhỏ lại đưa về gia đình nơi phố thị trong sự chau chuốt sớm chiều của người yêu rừng nhớ suối.
Những vòng quay mải miết như ấp ủ câu chuyện từ thủa ấu thơ mẹ se sợi nhuộm chàm chàm. Như những vòng ô xoay tròn kín đáo che mặt người thương buổi đầu gặp gỡ, như những vòng xoè rực rỡ trong đêm hội vùng cao. Đi suốt tháng năm vẫn không thể mờ phai những vòng xoay mềm mại kiên trì nhẫn nại và mộc mạc như người dân quê chịu khó, chịu thương trong mưa sớm nắng chiều.
Những năm qua nhờ các chương trình, dự án, miền núi đã và đang có thêm nhiều kênh mương bêtông cốt thép tưới nước cho các cánh đồng, sẽ có ít người duy trì cách lấy nước thủ công từ những chiếc cọn làm bằng vật liệu thô sơ. Mặc dù vậy, người miền núi vẫn sâu nặng một niềm tin còn cọn quay là còn những nốt nhạc vui mang hồn cây hồn suối, ngân mãi bản tình ca về một miền quê giàu bản sắc đang tươi mới từng ngày từ những gì xưa cũ mà nặng lòng với bao thế hệ.