Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

QUỶ KẾ SÒNG CỜ

Tìm hiểu về cờ thế giang hồ độ ở Sài Gòn...
QUỶ KẾ SÒNG CỜ
...
Ngoài “cờ úp”, cờ thế cũng hay được đặt tại nhiều bến xe, rạp hát để dụ khách chơi. Cách này đúng là “cờ gian” bởi chỉ sơ sẩy một chút, “gà” sẽ bị đánh tráo quân hoặc bị đặt quân cờ sai so với vị trí ban đầu của thế cờ. Điển hình là thế “Thất tinh tụ hội”. Thế này, mỗi bên còn 7 quân, nhưng quyết định việc thắng hay thua phụ thuộc vô con chốt đỏ ở biên. Con chốt này thường bị đặt ở vị trí... lấp lửng, nhìn qua không ai để ý. Khi “gà” chọn xong bên sẽ đặt cược, dân giang hồ sẽ áp tay lên con tốt này, đẩy lên hoặc lùi xuống một nước để chọn phần thắng về mình.
Đến cạm bẫy “morse” (tín hiệu)
Đây là đòn đánh sát thủ của dân giang hồ. Nó có thể hạ gục một tay đánh độ lão luyện nhưng tham tiền, thậm chí đả bại một kỳ vương nếu không cảnh giác chứ chẳng kể “gà”. Đơn giản nhất là “morse” bằng tay. Người chơi sẽ được cao thủ ngồi bên nhắc nước đi bằng cách ra dấu tay. Rồi đến “morse” bằng điếu thuốc lá. Cao thủ hơn thì “morse” bằng... lời hát, bằng những con số. Qua những tín hiệu này, người được “morse” cứ việc đi cờ theo mà “thịt” đối phương.
Theo “nhị sát” Lê Nhị Trí thì trước đây, bị “morse” nhiều nhất là ông T. chủ một tiệm thuốc Tây rất giàu có. Ông này cực kỳ mê cờ. Đánh độ, mới đầu chỉ là một ly nước, đến một vài phân vàng, vài chỉ vàng; đến khi độ lớn đến hàng lượng, hàng chục lượng, ông T. bị thua hoài mà vẫn mê. Có một dạo, ông T. chuyển sang đánh độ với ông L. bán phở. Ông L. sức cờ yếu, phải kêu cao thủ đến “morse”. Và không chỉ một người, ông L. kêu đến 3 người, cứ thế 4 tay vờn cho ông chủ T. thua lên bờ xuống ruộng. Thua nhiều cay cú, ông T. cũng nhờ đến cao thủ “chỉ giáo”. Để tránh “morse”, gặp nhau một điểm, ông T. lại lôi ông L. ra một điểm khác để bày bàn cờ đánh.
Ấy vậy cũng không thoát. Bên cạnh bàn cờ, thường xuyên xuất hiện những vị khách không mời. Khi thì ông đạp xích lô. Lúc lại là mấy tay bán hàng rong hiếu kỳ... Thực ra đó là những cao thủ “morse” của ông L.Xưa bên Q.8 có ông T.C mê đánh cờ độ, dù sức cờ yếu nhưng sắp xếp đánh “morse” thì thuộc hàng mưu trí bậc thầy. Lần đó, có ông U.G qua chơi, đòi đánh độ. Ông này cờ cao hơn lại rất giàu có nên T.C đành phải nhờ tới Hứa Kim Thành, biệt danh “đại ma đầu”, kỳ thủ khét tiếng cao thâm. Để “morse” được, T.C phải ngồi áp lưng vô một tấm vách đã được khoét thủng lỗ. Từ đó, “đại ma đầu” mới nhìn xuyên qua, rồi “morse” bằng cách... lấy cọng chổi chọt chọt vô lưng T.C. T.C mới thắng như chẻ tre. Chuyện chỉ bị phát hiện ra khi một lần U.G tình cờ mò vô nhà trong tìm chỗ đi tiểu. Mới thấy tấm lưng thù lù của “đại ma đầu” ngồi sau tấm vách...
Những trận đánh kinh thiên động địa
Khoảng năm 1980, “song kiếm hợp bích” Lê Nhị Trí - Trần Quới ra giang hồ và được Thập Tam tìm đến. Lúc này, có cao thủ Hồng “quán trọ” mới ngoài Bắc vô đòi cáp độ với Thập Tam để đánh lớn. Thập Tam sức cờ yếu, thua Hồng “quán trọ” khoảng một nước rưỡi, bèn nhờ “nhị sát”. Cuộc đấu được diễn ra ở một căn nhà yên tĩnh. Ông Trí nhớ lại: “Hồng “quán trọ” cực kỳ khôn ngoan, đánh cờ chỉ cho hai người vô phòng. Trước lúc đánh ổng cũng đi một vòng kiểm tra trần nhà, bức vách xem có bị hở khe nào không”. Phải đợi cho hai bên đang say máu thì “nhị sát” mới lẻn vô phòng sát bên. Trần Quới phải khẽ khàng trèo lên cao, nhìn qua bức vách để xem thế trận. Ở bên dưới, ông Trí mới luồn qua đáy bức vách một sợi dây. Chờ lúc Hồng “quán trọ” mất cảnh giác, Thập Tam ngoắc đầu sợi dây vô ngón chân cái. Thế là Trần Quới ở trên cao “morse” xuống cho ông Trí, ông Trí lại giật dây “morse” sang cho Thập Tam. Trận đó thắng lớn, sau này Hồng “quán trọ” mới biết chuyện. “Đi dạo gặp nhau, ổng chỉ mặt tụi tôi là ba con vịt khôn nhất Sài Gòn!”, “Nhị ca” nhớ lại.
Cũng phải nhắc lại rằng vào những thập niên 70 - 80, vùng Sài Gòn - Chợ Lớn có nhiều ông chủ Việt, nhiều “xì thẩu” người Hoa giàu có và rất mê cờ tướng, thích chơi độ lớn. Đây có thể coi là “nguồn thu” chủ yếu của giang hồ cờ độ. Chưa kể nhiều đại phú miệt đồng bằng sông Cửu Long cũng xách tiền xuống Sài Gòn, tìm gặp đánh độ với các “kỳ vương”. Tất nhiên là họ thua nhiều nhưng ông Trí lý giải: “Mấy ổng vẫn thích gặp tụi tôi, có người coi đánh độ là học hỏi, có người lại coi được đánh với Trần Quới là vinh dự, cũng có người mê quá, thua rồi ghiền, đòi đánh hoài”.
Kể ra thì có ông T.Th. Lúc đầu, ổng được Trần Quới chấp... cặp mã, rồi chấp hẳn pháo - mã, ổng vẫn thua, Trần Quới phải chấp lên 1 xe, vẫn thua, Trần Quới phải chấp thêm 1 xe đánh phân tiên, ổng cũng thua tiếp. Ấy vậy mà chỉ thích đánh với Trần Quới. Đến mức, Trần Quới phải chấp thế này: Nếu đánh hòa, ông T.Th sẽ được thắng. Nếu ông T.Th thắng bằng chiếu bí, Trần Quới thua hết, ngoài ra phải mất thêm 20% số tiền cược coi như “thưởng ông T.Th đánh giỏi”.
Một lần, “nhị ác” ngồi ở hội cờ Q.5, nhác thấy bóng ông T.Th đậu xích lô ngoài đường, ông Trí nói: “Lác chảy (biệt danh Trần Quới) chuẩn bị nha”. Y như rằng, T.Th xộc vô hối: “Lác chảy hôm nay dám “cự” không?”. Hôm đó “thiên tài” mệt mỏi, với lại cũng không có nhiều tiền nên nói “không”. “Suốt cả buổi sáng, thấy ổng cứ đi ra đi vô xem cờ nhưng vẫn rủ thằng Quới miết” - ông Trí kể: “Tới buổi trưa, thấy ổng ngoắc xích lô, chắc là đi ăn, tụi tôi mới gọi lại kêu ổng ăn xong rồi đánh. Tính giờ đó, người già không minh mẫn, ăn xong sẽ buồn ngủ”. Chẳng dè, ông T.Th tỉnh queo, hối sắp bàn cờ đánh luôn. Anh em ông Nhị mới hùn tiền vô, “đậu” ra cho ổng coi trước rồi mới được đánh. Rồi ông T.Th lại thua tiếp...
Nguyễn Lê Nguyên

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

"DIỆT TUYỆT SƯ THÁI" LÊ THỊ HƯƠNG

Tìm hiểu về cờ thế giang hồ độ ở Sài Gòn...
"DIỆT TUYỆT SƯ THÁI" LÊ THỊ HƯƠNG
... Vì coi thường “bóng hồng” lẻ loi mà không biết bao kẻ trượng phu đã phải thất cơ. Cảm phục tài năng, “nhất sát” Lê Thiên Vị đã gọi cô là “Diệt tuyệt sư thái”. Cô là Lê Thị Hương, hiện là tuyển thủ Hội cờ TP.
...
Lê Thị Hương sinh năm 1961, đàn bà tuổi con trâu, Tân Sửu. Nghe nói, hồi nhỏ bé Hương nghịch ngợm khác người, ông bố muốn con đằm tính lại nên dạy cho cô chơi cờ tướng. Chẳng ngờ bé Hương lại có năng khiếu bẩm sinh. Khi đã lần lượt vượt qua bố, qua các anh thì tên tuổi Hương cũng đã lẫy lừng cả xóm, đánh đâu thắng đó. Mê cờ, bé Hương bỏ học sớm, vừa phụ giúp gia đình buôn bán vừa kiếm tiền từ đánh cờ độ. Rồi biến cố đã ập đến với Hương khiến đời cô chuyển hẳn sang ngã rẽ khác. Năm 1976, mẹ cô mất. Rồi đến năm 1978, bố Hương qua đời. Hương bỏ hẳn buôn bán, mưu sinh bằng đánh cờ độ. “Đánh độ, lúc thắng, lúc thua. Thua hết tiền lại về buôn bán kiếm tiền đánh tiếp. Cả chục năm trời”, Hương kể. Khi quanh khu vực nhà cô ở đã không còn đối thủ, mình Hương thân gái dặm trường đã dám tìm tới khiêu chiến ở những sòng cờ khác quận. Tiền lận lưng cũng đâu có nhiều, giỏi ra thì được khoảng 1 chỉ vàng vào thời đó. Vừa mưu sinh, vừa mê cờ, bẵng đi một quãng đời thanh xuân tươi đẹp, Hương mới lấy chồng, sinh con...
...
Có một lần “nhớ đời” trong quãng thời gian hành hiệp, Hương nói “đến già cũng không dám đi nữa”. Đó là lần cô được ông anh giang hồ dẫn vô đánh cờ độ trong một hẻm lạ. Tin tưởng tài nghệ Hương, ông anh quả quyết: “Đi kiếm tiền, chắc chắn ăn được”. Hai anh em tướng tá ốm yếu mới liều mạng “vào hang bắt cọp”. Đối thủ sức cờ không cao nhưng đòi đánh “đôn”, tiền độ ván sau gấp đôi ván trước. Hương dễ dàng thắng ngay hai ván. Đến lúc này, đối thủ bắt đầu nóng mặt. Trong khi, dân trong hẻm chẳng biết ở đâu bu lại như kiến, chửi thề rần rần bởi tưởng bị gài độ. Bị cả chủ lẫn khách gây sức ép, ván thứ 3 Hương tiếp tục phải đánh “đôn”. Cô buộc phải xin thua rồi đứng dậy, “bận chuyện đi về”. Trả lại hết tiền, qua khỏi hẻm mà trống ngực vẫn đập thình thình vì sợ: “Sợ dân xóm đánh ông anh thôi, họ nghĩ ổng gài độ mình vô đây để lấy tiền người xóm”... Mới biết, bản lĩnh giang hồ cũng như sức cờ của Hương lúc đó đã mạnh như thế nào.
Đến năm 1993, TP bắt đầu có giải cờ nữ, bên Q.4 thấy Hương đánh hay nên kêu vô đội. Tất nhiên là Hương vô đội. Rồi cô được diện kiến “ngũ ca” Quách Anh Tú của nhóm Thất Đang, lúc đó làm Chủ tịch Hội cờ TP. Chỉ qua vài nước đi, “ngũ ca” đã phát hiện ngay tài năng đầy hứa hẹn của “con họa mi đá”. Chẳng cần tuyển trạch, ông Tú cất luôn Lê Thị Hương vào đội tuyển TP, năm đó cử đi ngay Bắc Kinh thi tài. Trời chẳng phụ lòng người. Ngay lần đầu tiên bước khỏi thế giới cờ độ giang hồ đến với sân chơi quốc tế, “Diệt tuyệt sư thái” đạt hạng 4 giải vô địch thế giới. Cùng năm đó, cô giành luôn hạng 3 giải Các danh thủ châu Á tại Thái Lan, rồi được phong ngay là Quốc tế đại sư. Từ đó đến năm 2001, Lê Thị Hương đăng đàn, liên tục giành các danh hiệu vô địch trong nước, giải thứ hạng cao cấp quốc tế...
...
Nguyễn Lê Nguyên
Theo báo Thanh Niên
(Tham khảo thêm trên nguồn https://danhthucotuong.blogspot.com/)

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Tìm hiểu về cờ thế giang hồ độ ở Sài Gòn...

Tìm hiểu về cờ thế giang hồ độ ở Sài Gòn...
"VÕ LÂM NHẤT SÁT" LÊ THIÊN VỊ
...
Đọc sách cờ tướng bán ở nhà sách, siêu thị hay lên mạng internet tham khảo, sẽ luôn thấy “phấn khích” bởi những thế cờ rặt mùi binh pháp như “Bác Vọng thiêu đồn”, “phục binh yếu lộ”... Còn ở làng cờ tướng Sài Gòn, biệt danh của các kỳ thủ thường rất... kiếm hiệp, nào là “Phong trần quái khách”, “Kim mao sư vương”, “Bạch mi ưng vương”... Và người đứng ra đặt cho họ các tên hiệu này không ai khác lại là “nhất sát” Lê Thiên Vị...
Nghe qua những “thương hiệu” đó, người đời thường cảm thấy tò mò, thu hút bởi tài năng, tính cách của các kỳ thủ; làm sống động một cách rất “đời” môn thể thao tưởng chừng khô khốc. Ông Vị kể: “Xưa tôi hay đọc tiểu thuyết Kim Dung, cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi chuyện kiếm hiệp, những biệt danh này xuất phát từ đó”. Tỷ như kỳ thủ Dương Thanh Danh, có dáng người ốm, lòng khòng, ông Vị đặt hiệu cho là Khô Mộc thiền sư. Anh Trương A Minh, kỳ thủ có cặp lông mày bạc trắng được đặt hiệu Bạch mi ưng vương. Ông Vị nói: “Đặt tên, gọi hoài, đến giờ chết tên luôn”. Riêng giới nữ, ông Vị còn đặt tên cho 2 người: Diệt Tuyệt sư thái Lê Thị Hương và Kim Hoa bà bà Nguyễn Hoàng Ngọc Thảo.
Để đánh được cờ giỏi, trước hết phải có trí nhớ tốt. Lê Thiên Vị nổi lên bằng tư chất này. Hồi nhỏ, xem bố đánh cờ với khách, cậu bé Vị đứng sau chăm chú, cố nhớ lại rồi tự bày ra, chơi với nhóm bạn trong làng mình ở Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Lê Thiên Vị tuổi Quý Mùi, sinh năm 1943.
Một ngày tháng 12.2008, hẹn gặp ông ở Hội cờ 143 Nguyễn Du, Q.1, kẻ hậu bối là tôi thử “kiểm tra” mới thấy Lê Thiên Vị còn minh mẫn lắm. Năm 1965, ông có được một cuốn sách cờ được coi là “quý hiếm” vào giai đoạn đó, cuốn Toàn đồ bách cuộc phổ của Trung Quốc. Thoăn thoắt bày các quân cờ lên bàn, ông Vị nhớ lại: “Đây là ván cờ thế “khưu dẫn hàng long” trong sách, một trong những thế cờ thuộc hàng giang hồ danh cuộc”. Hồi đó, để phá thế này, ông Vị đã phải mày mò, nghiên cứu cả tháng trời. 43 năm sau, Lê Thiên Vị vẫn nhớ về nó như một thế cờ tâm đắc nhất.
Ông Vị kể đời đánh cờ của mình, có những ván xem qua người khác đánh nhưng không thể quên được. Hay có những ván ông đánh thắng, hoặc thua cũng không thể quên được. Năm 1978, tại giải cờ mừng xuân ... ông Vị đã đấu thắng kỳ thủ Huỳnh Văn Hồng. Bày bàn cờ ra bàn, ông kể: “Tôi quân đen, đi sau. Ông Hồng đi nước tiên, vô pháo đầu”. Ở ván này, ông Vị “nhớ suốt đời” nước đánh pháo vọt sĩ, chọc thẳng vô cung của tướng đỏ. Chính vì nước cờ xuất thần này mà ông Vị đoạt thế thượng phong dù phải đi sau. Đến nước thứ 26, dù chưa bị chiếu bí nhưng đối phương phải buông cờ xin thua.
Hồi còn ở Hà Nội, khoảng năm 2005, tôi đã được may mắn nói chuyện với một trong “Bắc kỳ tứ kiệt” là ông Lê Uy Vệ, lúc đó tuổi đã cao lắm rồi. Nay lại được gặp “nhất sát”, mới nghiệm thấy ai đạt được đẳng cấp kỳ vương thì tính cách điềm đạm. Được diễm phúc hầu “nhất sát” một ván, đương nhiên tôi thua, nhưng ông Vị vẫn thận trọng cho rằng không thể chấp người mới biết chơi 2 quân xe vì “lực yếu, không thắng được”. Ông Vị nói: “Tính cách con người biểu lộ qua một ván cờ. Văn hóa cư xử cũng lộ ra ở đó. Có thể nhận thấy từ những nước khai cuộc”.
Chuyên đặt tên hiệu cho kỳ thủ nhưng bản thân Lê Thiên Vị cũng không thoát khỏi việc bị giới giang hồ “phong danh”. Từ khoảng năm 1981 - 1988, ông được liệt vô “Võ lâm tam sát” gồm Lê Thiên Vị – Lê Nhị Trí – Trần Quới. Nhớ lại, ông Vị có vẻ thích thú: “Tụi tôi tàn sát võ lâm nhiều, thắng trận rất nhiều, đi đâu thắng đó. Họ mới đặt vui như vậy”. Qua năm 1988, thiên tài bạc mệnh Trần Quới mất mạng trong một chuyến vượt biên, coi như “Võ lâm tam sát” mất số. ...
Cái chết của thiên tài Trần Quới còn mang lại cho ông Vị nỗi buồn nhiều hơn. Hồi “tam sát” còn, ông Vị và Quới đã đi khắp nơi khiêu chiến, đánh độ, đánh đâu thắng đó. “Có thể nói, Quới là người thắng nhiều nhất trong làng cờ. Nhưng cũng chính Quới là người nợ nần nhiều nhất”, ông Vị kể. Chỉ có điều, “nó tính toán cờ hay nhưng tính cho đời mình thì dở”. Cuối cùng, Trần Quới đã phải ra đi trong cảnh nợ nần, để lại biết bao điều tiếng...
Nghe ông Vị đúc rút về lớp kỳ thủ sau này đã trót vận vô “nghiệp cờ” càng thấy buồn và tiếc: “Đã vô nghiệp cờ rồi, hầu như không đủ sống. Rồi đã bập vô đánh “độ” rồi thì quên ăn quên ngủ, sức khỏe không đảm bảo. Thiếu thốn đủ đường, từ đó lại sinh ra tiêu cực”. Biết làm gì ngoài đánh cờ độ khi mà ông Vị nói “các kỳ thủ hầu hết học vấn ít, trình độ không có, bỏ cờ cũng chẳng có việc gì mà làm”.
Nguyễn Lê Nguyên
Theo báo Thanh Niên

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

THƯƠNG NHỚ TẬP TÀNG *Lý Thị Minh Châu

Hương quê trong bát canh rau...
THƯƠNG NHỚ TẬP TÀNG
*Lý Thị Minh Châu
Rau tập tàng thuộc hàng nhà quê chân chất, bình dị đến tầm thường thế nhưng nó là linh hồn của những mâm cơm quê đạm bạc, chỉ cốt no lòng. Người quê không ai là không biết rau tập tàng, thậm chí họ còn biết để ăn với mắm kho quẹt hay lẩu thì cần phải có loại rau gì thích hợp chứ không thể bạ đâu vơ đấy. Món ăn của họ ngon là thế, nhưng người thị thành khó biết nên dù chỉ một lần thưởng thức cũng đủ làm cho họ nhớ hoài.
Là loại rau quê dân dã nhưng là món quà của tạo hóa ban cho cư dân miệt đồng. Thiên nhiên luôn công bằng bởi người quê chân chất thì rau quê cũng phải “quê”, không tốn công gieo trồng, chăm bón, không phân tro, không chất tăng trưởng độc hại.
Rau tập tàng khiến người ta luôn nhớ về thời thơ ấu nhiều thiếu thốn của mình như câu ca dao:
“Chỉ là một bát canh thôi
mà anh đi tận cuối trời không quên
Rau lang, rau dịu, rau dền
tập tàng ngọt ánh mắt hiền em tôi
Mặn mòi đất mẹ em ơi
nuôi lúa lúa tốt nuôi người người duyên”.
Và:
“Ước ao một bát canh thôi
Xa quê nhớ đất nhớ người mình yêu”.
Quên làm sao được rau tập tàng. Đó có thể là cần nước, đọt chọi, đọt xoài, dền, mã đề, rau lang, rau dịu, me đất, cải trời, sen, súng, tàu bay... Dân dã thôi nhưng ngon đến xao lòng.
Người quê vất vả, món ăn quê cũng gắn với phận người. Thương lắm chân lấm tay bùn suốt ngày lội ruộng nhưng khi về luôn có mớ rau tập tàng trong nón, trong tay.
Cảm ơn Đất Mẹ đã nuôi chúng con lớn khôn bằng nguồn sữa tinh khiết nhất của mình. Dù chỉ là món ăn tầm thường nhưng sao hoài nhớ, hoài mong.
LÝ THỊ MINH CHÂU

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Chiều ơi! Biết chiều nào còn đứng trên nương...

Chiều ơi! Biết chiều nào còn đứng trên nương...
NƯƠNG CHIỀU
Thuở nhỏ, thời kháng chiến chống Pháp, kẻ viết bài này từng nghe bà mẹ mình - một người hát thánh ca trong ban Ca vịnh nhà thờ - từng dùng nhạc Phạm Duy ru con. Những lời ca, giai điệu Phạm Duy đã thấm vào hồn tôi từ thơ bé qua tiếng hát ru của mẹ như bài “Nương chiều”:
“Chiều ơi, lúc chiều về rợp bóng nương khoai, trâu bò về giục mõ xa xôi, ơi chiều…Chiều ơi, áo chàm về quảy lúa trên vai, in hình vào sườn núi chơi với, ới chiều…”
...
Thỉnh thoảng, khi buồn vui, mẹ tôi lại khe khẽ hát mấy bài Phạm Duy viết trong kháng chiến chống Pháp, ví như : “Cây đàn bỏ quên”, “Khối tình Trương Chi”, “Bên cầu biên giới”, “Tiếng đàn tôi”, “ Mười hai lời ru”…
Những bài hát của Phạm Duy, của Văn Cao (trước 1945) của mẹ tôi được chép trên giấy học trò; có khi là những bản chép nguyên cả khuôn nhạc in bột trên giấy bản nhầu nát; có khi, bố tôi (một người hát nhạc nhà thờ trong ban Ca vịnh biết chơi đàn và biết xướng âm bản nhạc) phải dùng hộp bao diêm làm dụng cụ kẻ nhạc, đặng chép lại bản nhạc cho rõ ràng giúp mẹ tôi…
...
(Trần Mạnh Hảo)
*** / ***
...
Một chiều năm 1947 nơi núi rừng Lạng Sơn-Bắc Kạn-Thái Nguyên, Phạm Duy viết Nương Chiều. Có áo Chàm ngồi cạnh cầm tay?
Chiều ơi lúc chiều về rợp bóng nương khoai.
Trâu bò về giục mõ xa xôi, ơi chiều
"Đất trồng trọt trên đồi núi hay bãi cao ven sông" là nương. Có nương dâu ruộng nương lúa nương...có cả nương náu, nương tựa, nương nhau mà sống. Phú Thọ có nương chè. Phú Thọ tục truyền là đất vua Hùng. Mê Linh của Hai Bà cũng thuộc Phú Thọ. Mùa hái chè những năm 1945, người Tày nguời Nùng ở bản mãi trong xa ra giúp. Sáng sớm tinh mơ địu bé ngủ trên lưng, mẹ con cùng hái chè. Dù có níu ở lại nhưng chiều nhất định đòi về. Bản làng xa xôi có điều gì làm mủi lòng mỗi khi chiều xuống? Nhớ hơi bếp, nhớ bắp ngô, không về nhỡ suối tương tư cạn nước lấy gì ra mà đền? Hay trong tiềm thức gìn giữ nghiệp xưa? Truyền thuyết Mường, Âu Cơ là con hươu đốm sao, Noọng mặc áo đen, dẫn 50 con đi về miền núi
Chiều ơi, mái nhà sàn thở khói âm u,
Cô nàng về để suối tương tư, ơi chiều
... hóm hỉnh, Noọng dầm chân váy vén cao lội băng qua suối, nước cũng phải động lòng. Người đa tình hay suối đa tình?
Nương chiều khác gì nương sớm?
Lúc chiều về là lúc yên vui ,
Qua đường mòn ngửi lúa thơm hơi ơi chiều
Nương chiều yên vui hơn nương sớm? Chắc vậy, nên lòng người và lòng trâu bò giống nhau, giục mõ rung chuông tíu tít gọi về.
Trăng tơ, trăng còn non mùng bẩy mùng tám hay là trăng lược cài đầu núi?
Chiều ơi lúc chiều về rợp bóng trăng tơ.
Cho ngày mùa bài hát nên thơ, ơi chiều
Trăng-Rắn-Hạt Trai: vật tổ của người Việt cổ, thời Lý thời Trần rồng mới thay cho rắn. Nửa Vầng Trăng-Bầu Vú, họa tiết của người Rhade, là biểu tượng cho người mẹ, cho mái nhà. Trăng ở nhà sàn mới là trăng? Mẹ ở nhà mới là mẹ của mình?
Màu chàm ngả tím đậm giống màu đen. Cao chàm từ lá chàm, bụi thấp, lá giống lá húng, nhuộm quần áo không phai.
Chiều ơi áo chàm về quảy lúa trên vai
In hình vào sườn núi chơi vơi, ơi chiều
...
Nguời Miêu người Lisu... pha màu sặc sỡ, người Tày-Nùng chỉ mặc màu chàm. Tại thiếu màu? Không đâu. Theo truyền thuyết người Mường-người Di, chỉ gia đình vua chúa hay lãnh đạo mới mặc mầu đen. Có thể người Việt cổ/Tày/Nùng cùng thuộc nhóm Di Đen quí tộc. Noọng Tày-Nùng giờ đây vẫn áo chàm tím đen, kiềng bạc. Trung du có chàm, đồng bằng không có chàm nên nhuộm bùn?
Chiều ơi biết chiều nào còn đứng trên nương
Phố phường nhiều chiều vắng quê hương
Ơi chiều
Chiều ơi Chiều ơi
Chiều ơi ...
...
Trần Thị Vĩnh Tường
(Trích đoạn trong bài "Phạm Duy Trong Nương Chiều" của Trần Thị Vĩnh Tường đăng trên http://chimviet.free.fr/)

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

ĐÚNG LÀ MUỐI MẶN !!

Người dân làm muối còn được gọi là diêm dân...
ĐÚNG LÀ MUỐI MẶN !!
...
Nghề làm muối phụ thuộc vào thời tiết, những người dân ở đây vẫn thường đùa nhau "Thiên thời địa lợi, trời bảo sao nghe vậy chứ biết làm gì hơn". Thật vậy, hôm nào trời nắng không sao, chứ hôm nào trời bất chợt đổ cơn giông khi muối chưa đủ độ để cạo thì coi như công sức cả ngày đổ ra biển cả. Một năm chỉ làm muối được 5 đến 6 tháng mùa nắng. Hết mùa muối, họ lại phải đi tìm những công việc khác để mưu sinh. Đến mùa, họ lại trở về, cặm cụi với nghề của cha ông.
Từ sáng sớm tinh mơ, người làm muối đã phải thức giấc để bắt đầu một ngày làm việc trên cánh đồng. Đầu tiên là công đoạn làm đất, tưới nước biển lên sân phơi và rắc muối mồi. Buổi chiều từ 3h đến 4h là lúc muối lên thành hạt, diêm dân phải mau chóng gom muối về lều thu mua. Họ đều phải làm việc dưới cái nắng vì có nắng thì mới làm được muối.
...
...
Vất vả, khó khăn là vậy, nhưng người dân cũng chẳng có nghề gì khác để mà làm, ngoài cái nghề lấy công làm lãi này. Quanh năm còng lưng, đen như cột nhà cháy, ấy vậy mà cứ ráo mồ hôi là hết tiền. Mong muốn muối được giá hơn luôn là niềm ước mong của những người dân lam lũ nơi đây, bác Tiến rầu rầu nói: "Hạt muối có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đâu có thua kém gì hạt thóc hạt gạo đâu, ấy thế mà chả ai người ta quan tâm, nhà máy thì thu mua với giả rẻ mạt, mà không bán cho họ cũng chả biết bán cho ai, thôi thì đâm lao đành phải theo lao".
Đi khỏi cánh đồng muối khi những tia nắng vàng vọt cuối ngày cũng sắp tàn lụi, tôi vẫn nhìn thấy mồ hơi tuôn rơi trên những gò má đen sạm vì nắng gió. Bàn chân đất gân guốc, nhăn nheo đang lầm lũi thồ gánh những chiếc xe cút kít chở đầy muối. Không biết đến bao giờ cuộc đời của những diêm dân nơi đây mới tươi sáng như những hạt muối trắng tinh khôi này vậy.
...
(Trích đoạn "ĐÚNG LÀ MUỐI MẶN" của Thâm Lưu Cao đăng trênnslide.com/bai-viet/dung-la-muoi-man.)

Vương phi Mỵ Ê (Bia Mih Ai) một hồng nhan trinh liệt của Chiêm Thành...

Vương phi Mỵ Ê (Bia Mih Ai) một hồng nhan trinh liệt của Chiêm Thành...
TÂM SỰ NÀNG MỴ Ê LÚC GIEO MÌNH XUỐNG SÔNG CHÂU GIANG
*Tản Đà
Châu Giang một dải sông dài
Thuyền ai than thở một người vương phi
Đồ Bà thành phá huỷ
Ngoạ Phật tháp thiên di
Thành tan tháp đổ
Chàng tử biệt
Thiếp sinh ly
Sinh ký đau lòng kẻ tử quy
Sóng bạc nghìn trùng
Âm dương cách trở
Chiên hồng một tấm
Phu thê xướng tuỳ
Ơi mây! ơi nước! ơi giời!
Đũa ngọc mâm vàng giọt luỵ rơi
Nước sông trong đục
Luỵ thiếp đầy vơi
Bể bể, dâu dâu, khóc nỗi đời
Giời ơi! nước hỡi! mây hời!
Nước chẩy, mây bay, giời ở lại
Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi
Tản Đà
Lời tác giả: Trong sử ta, đời Lý, vua Thái Tôn vào đánh Chiêm Thành, chém vua Chiêm là Sa Đẩu. Vợ vua Chiêm là nàng Mỵ Ê bị bắt xuống thuyền rồng đem về. Đến sông Châu giang phủ Lý Nhân, vua Thái Tôn truyền đòi ra hầu rượu, nàng ấy lấy một tấm chiên hồng quấn mình gieo xuống sông, nay có đền thờ tại Phủ Lý.
(Nguồn: Tản Đà, Khối tình con - Quyển thứ hai, Tản Đà thư cục in lần thứ hai, 1918)
...
NGỔN NGANG TÂM SỰ CủA VƯƠNG PHI MỴ Ê TRẬN CHIẾN THUYỀN QUÂN NAM
*Java Pak Kraung
Ôi quốc phá gia vong, thành trì sụp đổ, quân binh tử vong tan tác, dân tình hỗn loạn. Ðiện ngọc cung vàng nay còn đâu?! Ôi sinh ly tử biệt! Phu quân, thiếp nguyện giữ tấm thân ngọc ngà tinh khiết. Chàng đã trở thành bất tử của lòng ta cho dù cách trở cõi trần và tiên giới. Tình nghĩa phu thê: phu xướng phụ tùy đẹp như hoa xuân nở, trong vắt như thủy tinh, nay chỉ là trống vắng đơn côi, hãi hùng, một thân ôm lấy cánh hoa xuân tàn vào lòng nguyện ước ba sinh.
Sóng nước Châu Giang càng lúc thêm rạt rào, mang âm hưởng những lời thì thầm yêu đương từ những không gian xưa cũ vọng về, làm đôi mắt Vương Phi thêm đẫm lệ, soi sáng thiên đàng dưới đáy dòng Châu Giang sâu thẩm và hình ảnh Phu quân đang dang tay đón tiếp trùng phùng. Thiếp sẽ dang đôi cánh tay mềm bơi dưới đáy dòng Châu Giang lên Thượng giới gặp Phu quân cùng nhau tiếp nối tình yêu vĩnh cửu, trong cảnh đời "vô-vi thanh tịnh", đầy trăng sao, hoa trái đào tiên quanh năm và tắm sông Ngân Hà cùng Ngưu Lang Chức Nữ. Sau lưng ta dân tình lầm than, bầy tôi âm thầm nhỏ lệ trước cảnh thành quách điêu tàn, vua quan tử biệt; nhưng phận liễu mai không biến đổi được cảnh ngộ đau thương của giống nòi, thân phận đang bị quản thúc bởi quân Nam, đành nhắm mắt xuôi tay tìm gặp lại Phu quân bên kia cõi trần tục này.
Hoàng hôn đã tắt dần, nhưng điệu nhạc hoàng hôn lại tăng lên, bởi giòng Châu Giang vẫn vô tình trôi chảy, tạo những âm thanh lách tách vào mạn thuyền xuôi buồm mát mái, nỗi lo âu rên than của những cung tần nhạc nữ, hòa lẫn tiếng hò reo chiến thắng quân Nam, tạo thành một môi trường âm thanh nhiễu loạn, càng làm tan nát cõi lòng thiếu phụ Vương Phi đang trầm mặc trong đớn đau da diết. Thượng đế hỡi, cho con bình rượu Thiêng để uống cạn đêm nay trước khi trầm mình xuống đáy Châu Giang, tìm đến Phu quân con, vì trên cõi đời Tiên giới tiếng Phu quân của con đang vọng lại, nặng trĩu giai điệu yêu thương nhớ nhung xa vắng.
Thi nhân hỡi, người hãy đến bên cạnh ta để nghe rõ tim ta thổn thức và mang cung điệu yêu thương ngút ngàn của ta dệt thành những vần thơ trác tuyệt để gởi đến Phu quân ta, trước khi lệnh ban hồi từ cõi lòng ta thúc giục từ biệt cõi trần.
Ôi! giang sơn cẩm tú!
Ôi! điện ngọc cung vàng!
Ôi! lương dân bá tánh của Vương Quốc Champa! Ta xin chào vĩnh biệt.
Ôi! Thượng giới vô biên hư ảo, sắc sắc, không không. Jaya Phu quân, hãy đợi ta cùng phiêu du cuộc đời nơi quê hương ngàn thu vĩnh cửu đó.
...
Java Pak Kraung
(Trích đoạn trong bài "VƯƠNG PHI MỊ-Ê (BIA-MIH AI) MỘT HỒNG NHAN TRINH LIỆT CỦA CHIÊM THÀNH" của Java Pak Kraung đăng trênhttp://www.nguoicham.com/blog/)