Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

VĨNH HẢO, DÒNG SUỐI TRUYỀN THUYẾT ! *Vi Cầm

Ngồi nhớ chai nước suối ngày xưa...
VĨNH HẢO, DÒNG SUỐI TRUYỀN THUYẾT !
*Vi Cầm
Từ tên gọi cho đến chất lượng nguồn nước khoáng, tất cảđã trở thành một câu chuyện được ví như huyền thoại...
Tại vùng Panduranga ( thuộc vùng Phan Rang Phan Rí, tỉnh Bình Thuận ngày nay) có một dòng “ Suối Thánh” được người Chiêm Thành xưa gọi là Eamu - chỉ được dùng trong những cuộc tế lễ thần linh hoặc trị bệnh.
Đến đầu thế kỷ XIV, tương truyền Huyền Trân Công Chúa được vua cha Trần Nhân Tôn gả cho vua Chế Mân ( nước Chiêm Thành). Sau hôn lễ đôi tình nhân đưa nhau đi ngao du sơn thủy vùng đồi núi, tình cờ dừng chân bên dòng “Suối Thánh” Eamu ngày ấy. Huyền Trân công chúa sau khi biết được tác dụng quý giá của nguồn nước linh thiêng này đã đặt tên cho nguồn nước là Vĩnh Hảo, với ý nghĩa “đời đời tốt đẹp”, như một sự công nhận và trân trọng loại nước linh thiêng quý hiếm này.
Khi đến Việt Nam vào thế kỷ thứ 19, người Pháp – vốn tường tận về ẩm thực thế giới – đã cất công tìm kiếm khắp thuộc địa hình chữ S một nguồn suối khoáng tự nhiên chất lượng tốt, và đã vô cùng bất ngờ khi tìm thấy nguồn nước khoáng Vĩnh Hảo. Người Pháp ưu ái đặt tên là ‘Vichy Đông Dương’ với ngụ ý so sánh chất lượng của Vĩnh Hảo tốt tương đương với nguồn khoáng Vichy nổi tiếng toàn cầu của Pháp. Từ đây nước khoáng tên gọi “Vichy - Vĩnh Hảo” đã được người Pháp đóng chai tại nguồn và xuất khẩu đi các thị trường khó tính trên thế giới, trở thành sản phẩm trứ danh khắp Đông Dương.
Lúc bấy giờ, Vĩnh Hảo sớm trở thành thương hiệu nước khoáng đầu tiên chiếm thị phần lớn nhất tại thị trường Việt Nam. Trước 1975, Vĩnh Hảo là nước khoáng duy nhất ở Việt Nam được chính quyền miền Nam cho lưu hành chính thức ở các bệnh viện và các tiệm thuốc tây cả nước. Không dừng ở đó, nước khoáng Vĩnh Hảo còn xuất khẩu đi thị trường các nước khó tính như Mỹ, Úc, Canada, Đài Loan,... và sớm khẳng định đẳng cấp Quốc tế của mình.
Khác với nước ngầm vốn là nước của đất, nguồn nước khoáng Vĩnh Hảo được thiên nhiên dày công tôi nặn và cất giấu trongtúi khoáng hình thang trong lòng đá cách xa mọi ô nhiễm, chứa đựng vị ngọt lành và thuần khiết của 8 loại khoáng quý cực tốt cho sức khỏe.
Ngày này Công ty Vĩnh Hảo đã chi hàng trăm tỷ đồng trong việc bảo vệ và khai thác để hàng ngày tài nguyên độc nhất vô nhị này có thể tưới mát và giải tỏa cơn khát của 2/3 dải đất hình chữ S, miền Trung và miền Nam Việt Nam.
Vi Cầm

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2018

TANG PHIÊU TIÊU & BỌ NGỰA

Câu chuyện cuộc đời của bọ ngựa - "võ sĩ" côn trùng...
TANG PHIÊU TIÊU & BỌ NGỰA
- Tang phiêu tiêu là tổ con bọ ngựa trên cây dâu. Theo Đông y, tang phiêu tiêu vị mặn ngọt, tính bình, vào can thận, có tác dụng ích thận cố tinh, chữa liệt dương; mộng tinh, đau lưng, kinh không thông, bụng đau có hòn cục, tiểu nhiều, tiểu són.
- Bọ ngựa là tên gọi ở Việt Nam thôi, chắc tại vì chúng tớ có cái đầu và khuôn mặt giống như một chú thiên lý mã. Còn chúng tớ có tên tiếng Anh đàng hoàng nha, ấy là “Praying Mantis”. Nhiều người nói rằng tên này là để miêu tả hình dáng của chúng tôi bởi “song kiếm” gia truyền luôn được chúng tôi để trang trọng trước ngực, tựa như đang cầu nguyện đó. Còn trong tên gốc Hy Lạp, tên “Mantis” có nghĩa là “tiên tri” đấy! Điều này cũng đúng đấy chứ, bởi loài bọ ngựa chúng tôi khi săn mồi cũng thật tinh nhanh và thường chiêm nghiệm như những nhà tiên tri mà!
Bọ ngựa chúng tôi ưa thích nhất là những loài côn trùng nhỏ như sâu bọ, dế, châu chấu, bướm. Nông dân gọi chúng tôi với cái tên trìu mến là "thiên địch" đấy! Với khả năng ngụy trang bậc thầy của mình, bọ ngựa thường rình rập con mồi, bất động, quan sát, từ từ tiến lại gần và rồi… “a lê hấp”. Tốc độ ra đòn của bọ ngựa nhanh đến nỗi mắt người không nhìn thấy được.
Không phải khoe, chứ người ta còn lấy tư thế săn mồi của bọ ngựa để sáng tạo ra một môn võ nổi tiếng Trung Hoa - Đường Lang quyền nữa đó!
Như đã nói, bọ ngựa trưởng thành sống được khoảng trung bình 6 tháng. Vòng đời bọ ngựa bắt đầu vào mùa xuân. Bọ ngựa đực và cái sẽ đi tìm nhau, kết đôi và sinh ra em bé. Thường thì bọ ngựa cái đẻ từ 10 - 400 trứng tùy thuộc vào loài. Số lượng trứng này nở ra bọ ngựa con, nhỏ hơn bọ ngựa trưởng thành và không có cánh, săn những con ruồi giấm làm thức ăn...
Tuy nhiên, giống như một số loài động vật khác, bọ ngựa cũng có “scandal” ăn thịt bạn tình. Cụ thể là trong khi giao phối con đực sẽ bị bạn tình của mình chém bay đầu, giao phối xong, con cái sẽ ăn thịt con đực. Điều này có nghĩa là những chú bọ ngựa con sẽ bị mồ côi cha từ khi chưa sinh ra. Song, đây là điều mà các chàng bọ ngựa tình nguyện làm để duy trì nòi giống của mình. Thật là can đảm phải không nào?
...
Việt Anh

QUÁN ĐỢI HOÀNG HÔN *Trần Hoài Thư

Ban Mê ngày ấy... Quán La Souris Blanche, ngã tư đường Lý Thường Kiệt và Quang Trung... giờ chỉ còn những tên đường trên tấm bản đồ cũ mà thôi !
QUÁN ĐỢI HOÀNG HÔN
*Trần Hoài Thư
Khi lên thị trấn miền núi này vào một ngày cuối năm, tôi đã mang theo hình bóng cô độc in trên những con đường rét run hơi lạnh. Đây là một thị trấn lạ. Những vách nhà gỗ thông, những bức tường vôi còn hoen ố bụi bùn đỏ, những người Thượng hay Kinh, những con đường phượng khô hay những con đường thiếu ánh nắng, tất cả như mờ đi trong đôi mắt mỏi. Và bụi đỏ, lớp lớp phủ đầy trời đất và những khóm hoa sứ trắng nỏn như những bông tuyết. Tôi đã có mặt, một thân, một bóng, cô độc trùng trùng.
Chiều nay tôi xuống phố. Cả người rét run vì tôi đã quên mang theo áo ấm. Tôi bất cần, sống mà như không sống, đi mà như không đi, bước mà như không bước, nhưng tôi cũng vẫn chịu thua trước thiên nhiên khắc nghiệt. Chiều nay, người chủ Tây của quán cà phê La souris blanche đã hiểu tôi. Quần áo tôi bám đầy bùn đỏ, những ngón tay tôi vàng khói thuốc. Người chủ Tây đã đến bên tôi rất nhẹ, má trủng và đen, như thể từ xứ Algerie. Bonsoir monsieur. Que voulez vous? Tôi nhìn lên đôi mắt của người khác màu da. Tôi gọi ly cà phê.
Chiều nay tôi được nghe lại một tấu khúc cổ điển và được tưởng tượng qua sách vở những đoạn tả về xứ của mặt trời, về những loài hoa hướng dương, lưu ly thảo, cẩm chướng mà Albert Camus đã viết trong những tác phẩm của ông.
Chiều nay tôi đang đợi hoàng hôn về, hoàng hôn đi và hoàng hôn chết. Chiều nay khí núi đã bốc vào khung cửa kính và tôi khẻ rùng mình. Hơi lạnh đã len vào người, ve vuốt tôi như một lần nào kia. Một lần nào kia. Như quán nào dưới phố. Và ai kia. Bờ vai mềm, mái tóc ngắn, và cả Sài Gòn của tôi.
Sàigòn của tôi. Tuổi trẻ của tôi. Người nào đấy có nghe chăng, chiều nay, nỗi nhớ nhung trùng trùng ngất ngất. Có nghe chăng, hơi ấm xiết lại vòng tay. Có hít hà chăng da thịt lứa đôi để gần thêm một giây cho ngàn trùng xa cách. Người nào đó có nhớ chăng, lệ là lệ, mà lệ theo giòng chảy xuống môi, mà môi cắn môi, môi ghì môi, cho bầm đau một giây mà trăm năm nhớ mãi.
Chiều nay tôi lạc loài như một vì sao côi cút. Hoàng hôn, hoàng hôn. Tôi lại châm mồi thêm điếu thuốc. Quán cà phê trở nên tối sẩm. Những bàn, những ghế, những chai rượu như bức tranh tĩnh vật của Gauguin. Lúc này phải mím môi khinh mạn: Đưa người sao không đưa sang sông. Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng…
Hoàng hôn. Tôi đang đợi hoàng hôn. Một ly cà phê nhỏ. Tôi đang uống cho hoàng hôn. Da thịt tôi tràn ngập hoàng hôn. Mắt tôi cũng đầy cả hoàng hôn. Tôi mê thiếp trong hoàng hôn.
oOo
Vài người Tây từ đồn điền trở về. Chiếc xe mang đất đỏ đã đậu ở bên đường. Trên xe những bao cà phê, những nải chuối chồng chất. Những tiếng chào hỏi rộn ràng và họ bước vào trong quán. Người đi đầu tóc bạc như tuyết, khoác chiếc áo blouson màu cứt ngựa, ngậm điếu xì gà. Người đi sau, trẻ tuổi mang chiếc ủng cao. Bonsoir, bonsoir mon ami…Chai rượu chát đỏ, những cốc pha lê, những chiếc khăn bàn trắng. Đêm xuống dần ngoài kia. Ngoài khung cửa kính những chòm hoa sứ đang lay động trong gió. Vài người lính vội vàng bước qua. Tôi mồi thêm điếu thuốc. Gió lộng vào quán khiến tôi phải co ro. Người chủ quán đã biết ý, đóng lại cánh cửa gió. Tôi có thể nghe được tiếng gió đập vào cánh cửa bằng những âm thanh thúc hối, tức bực. Có tiếng chuông đồng hồ điểm. Thời gian đã dậy rồi. Thời gian đang bước đi. Thời gian sắp làm tôi trở thành một tên đàn ông hai mươi ba tuổi.
Tôi nói lầm bầm: Hai mươi ba. Ta đã hai mươi ba tuổi rồi sao. Tôi dí đầu thuốc vào gạt tàn. Dí mạnh, không thương xót.
Đây là một quán xa hương. Một quán Pháp, chứa nhiều gió Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Một quán lạc loài như một cù lao giữa miền nhiệt đới.
Bởi những chủ, những khách đã đến từ phương khác. Còn tôi, đến từ phương này sao lại hiu quạnh như một cù lao?
Merci Monsieur. Người chủ quán nói sau khi tôi trả tiền xong. Tôi lao ra ngoài đêm. Phố vắng ngắt. Đêm nay là đêm giao thừa. Đêm nay là đêm linh thiêng nhất của một dân tộc. Sao tôi lại thui thủi như thế này. Tiếng nhạc từ quán cà phê vọng về. Hình như là bài hát trong La Valse dans l’Ombre. Tôi vẫn bước đi trong khi tiếng gió hú trên những tàn cây cổ thụ. Gió tạt vào mặt tôi. Gió cắt rát da thịt tôi. Đêm nay không có một vì sao nhỏ. Đèn nhà ai đã mờ sau khung cửa. Nơi đó là gia đình là đoàn tụ, là đàn trẻ reo vui, là tiếng than reo tí tách, là nồi bánh trừ tịch, là khói hương ngào ngạt trên bàn thờ. Tôi thèm ly rượu, thèm những viên Binoctal.
Ôi, mùa xuân. Mùa của hy vọng. Mùa của chúc mừng. Còn tôi. Mai nay tôi sẽ thêm một tuổi, mà mẹ thà xem như hạt bụi, em thà xem như hơi rượu cay. Tôi là tặng vật của Thượng Đế mà ma quỉ thèm thuồng. Hãy buông thả tôi. Hãy phóng thích tôi. Hãy trả lại quyền làm người về lại cho tôi. Nếu không tôi sẽ làm loạn.
Ôi mùa xuân. Mùa của hy vọng. Còn tôi, đang nhìn quan tài của tôi, bởi vì khi con người hắn không còn được quyền làm chủ đời hắn, thì hắn chẳng khác một thây ma không hơn không kém.
TRẦN HOÀI THƯ

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

SE LÒNG *Như Thương

Thôi từ đây ly hương...
SE LÒNG
*Như Thương
Cuối năm, cái lạnh se lòng của những kẻ ly hương thật sâu thẳm. Nó quay quắt trong hồn qua từng kỷ niệm ùa nhau về ... một tà áo người xưa đi lễ thánh, một màu áo len dịu dàng co ro trong trí nhớ, những tiếng cười vỡ tràn hạnh phúc trong gia đình đầm ấm, những góc phố quen mòn bước chân của một thời non trẻ, những năm tháng trôi dần qua trong bình yên và sóng gió .... tất cả chỉ có nơi quê nhà!
Điều gì đã làm mình dường như quấn quít với chốn cũ đến thế? Đã đẩy lòng trôi giạt về bến đò xưa trong mỗi độ Đông về khi tôi là người đi nhặt nhạnh những tấm áo len cũ, mới, rách, lành trong thùng rác của những người hàng xóm khi tôi mới đến xứ người.
Mùa Đông năm ấy bước chân người xa xứ chưa hết bỡ ngỡ, lạ lẫm, cô đơn, thì cái lạnh khắc nghiệt và rất xa lạ của cơn bão tuyết đến. Rời quê hương vào tháng 3, lúc ấy thời tiết và khí hậu nơi quê nhà hãy còn hương vị ấm áp của nàng Xuân, nhưng đặt chân đến xứ người và thấy hình ảnh một màu trắng phủ khắp mọi nơi đã làm tôi chợt ngu ngơ tự hỏi: Nước Mỹ như thế này à? Thế thì làm sao mình sống được, chắc là cóng mất thôi ?!
Đêm ấy trời trở lạnh và nhìn qua cửa sổ tôi thấy hoa tuyết rơi lần đầu tiên trong đời. Thật tuyệt! Chúng như những thiên sứ trắng lạc xuống trần gian, mong manh, trinh nguyên và dịu dàng làm sao! Tuyết rơi nhanh và vội vã hơn, rồi bỗng dưng thoáng chốc những hàng cây cổ thụ, những con đường, nhà cửa, ngõ ngách ngoài phố biến mất, để còn lại một màu trắng ngập tràn mọi nơi.
Những buổi sớm mai lạnh cóng trong chăn mền (!) đã làm tôi thật ngạc nhiên, trùm hết những chiếc áo len mỏng như áo khoác của mùa thu mà tôi đem qua từ quê nhà, cũng dăm bảy chiếc, rồi mền, rồi gối ... thế mà vẫn run và buốt lạnh xương sống. Thế là thức suốt đêm và ban ngày thì ngủ gật gà gật gù. Nhiệt độ âm 40 độ F cơ mà! Cái lạnh trong tủ ngăn đông đá thật tuyệt vời !!! Mở tủ ra, thò khuôn mặt vô, cảm thấy ấm trời ạ! Biết làm sao hơn, tôi và cả gia đình quây quần bên bếp lửa bật đỏ rực lên để xua đuổi đi cái cảm giác lạnh khắp cơ thể và nấu nước sôi uống từng ngụm một cách ngon lành.
Những ngày khởi đầu cho một cuộc sống mới được bắt đầu bằng hình ảnh ngồi trong nhà trông ra ngõ trắng mịt mùng, tôi chợt thèm nghe một bài hát tiếng Việt vô cùng, bài hát hay hoặc dở và ca sĩ nào cũng được, thèm được ở trong căn phòng quen thuộc của ngôi nhà xưa, ao ước được nhìn thấy bầu trời trong xanh có mưa xuân lất phất nhẹ bay vừa mới đi qua. Giá như mà mình được trùm chăn như thế này, đọc sách và nhẩn nha với đậu phọng rang hay bắp rang ... Nỗi nhớ cố hương sao mà đơn giản quá, nhưng quả thật nó bắt nguồn từ những điều nhỏ nhặt thế đấy.
Ngày thứ nhất ... rồi một tuần lễ trôi qua, vẫn ngồi trong cửa ngóng ngoài cửa, vẫn lạnh buốt xương da đến nỗi chỉ vừa hé cửa ra là cơn gió lạnh thổi thốc vào mặt rát như dao cắt và rồi chiếc mũi tê dại đi; vội vàng đóng cửa lại, hơ khuôn mặt tái trên bếp lửa ngay kẻo mình có cảm tưởng máu sẽ đông đặc lại thôi! Ấy thế mà những đửa trẻ hàng xóm của khu apartment này lại vui đùa bên đống tuyết ngoài ngõ mới lạ chứ! Chúng nó đắp hình ông già tuyết, chọi tuyết nhau một cách thích thú - con nít xứ này "khỏe" thật, chả biết lạnh là gì !!!
Mười ngày sau cơn bão tuyết mọi điều đã như kim đồng hồ quay ngược chiều. Cái thế giới trắng ngoài song cửa bỗng nhiên đổi màu nâu đất - nhầy nhụa tuyết, đá, đất quyện lẫn nhau, nước chảy thành giòng lang thang khắp phố. Người lớn, trẻ con co ro bắt đầu bước ra đường với khăn choàng cổ đủ màu sắc, nón và áo len trùm kín, tôi cũng mon men theo họ.
Tôi phải thét lên là "Vẫn còn lạnh" và đường sá trơn không tưởng tượng được. Bước chân tôi đi trên nước đá - theo cách nghĩ và cách gọi của tôi. Tuyết tan, nước chảy và gió rít đã thật sự là những hình ảnh mới đối với tôi sau chuỗi ngày ngồi ngắm tuyết rơi, đó là chưa kể cảm giác không có tai, mũi, hai chân và nguyên cả hai bàn tay! Chúng nó đông đặc trong giòng máu ấm của tôi rồi sao?! Bước chân ra đường để đi mua thức ăn, loay hoay mãi lại lạc đường, bởi vì máy bay vừa hạ cánh xuống phi trường là thành phố đã bắt đầu xôn xao với sự cảnh báo bão tuyết rồi, cho nên chúng tôi bị vất xuống ngôi nhà, mãi cho đến khi cơn bão tuyết qua đi. 10 ngày ngồi ao ước mọi chuyện giữa những căn phòng rộng mênh mông (vì không vật dụng, bàn ghế nào cả) đã làm tôi ngớ ngẩn khi phải bước chân ra đường.
Tìm ai để hỏi đường bây giờ, cái bảng đường đi như thể là một người câm đối với tôi hay đúng hơn tôi là người mù đối với chúng. Một đoàn người lếch thếch áo mũ lạ hoắc của chúng tôi lang thang qua những khu phố kế cận, những con đường có tên đấy chứ, nhưng chúng không biết chúng tôi muốn đi đâu, nên chẳng giúp ích gì được chúng tôi. Nhìn dáo dác hoài vẫn không tìm ra một "mái đầu tóc đen". Thật cô đơn!
Cuối cùng, người đầu tiên mà tôi tiếp xúc để nói chuyện bằng hai chữ "Yes" và "No" là một người da đen lái chiếc xe đổ rác bên hàng xóm cạnh nhà. Mãi cho đến hôm nay, 20 năm sau của thời khắc ấy, tôi vẫn còn hình dung ra cái ngọng nghịu, mắc cỡ và bối rối của tôi khi phát âm tiếng người.
Ông da đen đã chỉ cho chúng tôi “hiểu” những chiếc áo len trong bao nylon để trên thùng rác là áo len còn có thể mặc được, có thể lấy được mà không bị tội ăn cắp! Tôi không hiểu tại sao hồi ấy tôi hiểu ngầm được những điều ấy từ nơi ông sau khi ông ta nói một câu tràng giang đại hải và tôi trố mắt đứng nhìn ông, để rồi ông lấy một chiếc áo trong bịch nylon ra và ướm trên người tôi và nói "You". Hình như ông ta có phát âm thêm vài từ ngữ gì đó trước chữ "You" ấy, nhưng tôi chỉ nghe vỏn vẹn duy nhất một chữ để hiểu rằng chiếc áo ấy mình có thể lấy được. Khuôn mặt ông ta đen, chiếc áo to thùng thình cũng màu đen và khuôn mặt của tôi thì xám xịt vì lạnh... tất cả đã đến với nhau trong một bản hợp ca mang âm hưởng "nghèo" - tôi cảm nhận như vậy.
Người con gái ngẩng mặt lên nhìn ông với đầy lòng biết ơn, nhưng không biết nói câu gì để cám ơn! Tôi đấy ... dẫu biết chữ "Thank you", nhưng nói làm sao??? Chỉ cười, nụ cười có lẽ thần thánh lắm, nên được Đấng Tạo Hóa đền bù lại bằng ánh mắt, khuôn mặt và nét môi cười của người đàn ông da đen đáp trả lại. Tạ ơn Ngài đã ban cho con người một phương tiện truyền thông sự nhân hậu, chia sẻ và cảm thông bằng ánh mắt và nụ cười.
Ông ta đã lôi ra hết tất cả những chiếc áo len khác trong tất cả những chiếc bịch nylon thật to nằm ngất ngưởng trên những thùng rác (nhưng lại trông rất sạch!). Dường như thùng ấy chỉ để quần áo mùa lạnh, do đó tôi không thấy những thứ vặt vãnh mà tôi thường nghĩ là rác thật. Cả hai người đều không nói nhau câu nào, chỉ cắm cúi và ngậm thinh làm điều mình muốn làm, thế mà cũng hiểu nhau. Và tôi khệ nệ khiêng mớ áo len bên lề đường ấy về nhà. Tôi ướm thử "áo người", lòng bỗng dưng tủi thân vì xưa nay mình có bao giờ đi nhặt áo thừa như thế này đâu, nơi đây xứ lạ quê người, mình làm thế nhỡ họ khinh mình thì sao.
Rồi cũng qua đi những cảm giác vui buồn lẫn lộn với xấu hổ, ray rứt, lạc lõng, buồn đến rưng rưng nước mắt, mà chẳng biết vì sao mình khóc nữa. Cuối cùng tôi được một chiếc áo len thay thế 5 lần áo len quấn quanh người tôi tuần trước. Cái cảm giác ấm đã làm tôi quên đi tủi thân ngày ấy vì trong những ngày lạnh vừa qua, cơ thể tôi đã phát bệnh. Người sưng to lên từ khuôn mặt đến cái lưỡi trong miệng, tay chân và vòng bụng ... giống như là tôi rất mập, nhưng tình thật là tôi rất khó chịu khi thở.
Chủ nhật sau tuần lễ tuyết tan, tôi thấy những người hàng xóm quần áo chỉnh tề như đi dự dạ tiệc ban ngày. Họ đi lễ. Tôi không có đạo, nhưng vẫn quen đến nhà Chúa thuở còn đi học theo bạn bè. Thế là tôi cũng đi lễ theo họ bên góc ngã tư bên kia đường tuyết đổ.
Trời vẫn còn lạnh đối với người mới đến từ xứ nhiệt đới như tôi, nhưng tôi cảm thấy dễ chịu hơn những ngày mà cơ thể tôi bị dị ứng vì thời tiết quá lạnh vừa qua. Nỗi buồn hôm trước trong tôi khi nhặt trong thùng rác những chiếc áo len thật dày, thật ấm đã tan chảy đi ít nhiều như mảng tuyết phủ trên nóc nhà.
Nhà Chúa hôm ấy thật ấm và chan chứa tình người. Bỗng dưng tôi gặp được rất nhiều người Việt ở chốn ấy. Mừng chi lạ! Họ cũng biết gia đình tôi mới đến, nên vồn vã thăm hỏi và an ủi, cũng như chia sẻ những tâm tư lo lắng của người mới đến. Tôi hoàn hồn sau những điều câm nín trước cuộc sống mới và nói thật nhiều với đồng hương mọi điều trong rươm rướm nước mắt. Mọi người chỉ khuyên tôi một câu rất giống nhau: "Từ từ, rồi đâu sẽ vào đấy cả !"
Tôi đi vào hàng ghế trong sự tĩnh lặng và thánh thiện của ngôi nhà thờ nhỏ. Lòng thật bình an. Mình sẽ cầu nguyện với tất cả tâm thành của một trái tim con người lên Đấng Tối Cao nơi xứ lạ này. Chúa ở nơi nào cũng là Chúa Nhân Từ thôi, dẫu con ngoại đạo, dẫu con không hiểu được Cha Xứ nói gì trên bàn Thánh, nhưng trong tận đáy lòng con, con tin Người, tin mọi điều thiện tâm trên thế gian này vẫn còn chung quanh đời sống.
Bất chợt tôi thấy một người đàn ông có khuôn mặt quen đi vào cùng lối đi chính với tôi - người đàn ông da đen đã mỉm cười với tôi trong sự hạn hẹp ngôn ngữ và vụng về của tôi. Vẫn nụ cười ấy, vẫn cái ánh mắt sẻ chia... nhưng hôm nay ông ta trông nghiêm nghị hơn trong bộ quần áo tươm tất. Lòng lành của Chúa đã đem mọi người đến với nhau, đến từ trong tâm hồn, cách suy nghĩ và hành động, để hôm nay khi tôi gặp lại ông thì lòng tôi tưởng chừng như đã quen ông từ lâu lắm rồi. Ông cũng nhận ra tôi - có lẽ con bé ngốc nghếch không biết nói một chữ tiếng Anh đã làm ông nhớ đời !?
Nhà Chúa, tiếng chuông và tấm lòng mọi người chốn này vẫn là hình ảnh của nhà Chúa, tiếng chuông bên kia quê nhà và Chúa đã gởi đến cho con hình ảnh nhân ái của Người qua người đàn ông da đen hiền lành ấy- một tấm lòng lành thánh đơn sơ vô cùng. Xin tạ ơn Người và xin mãi mãi nhớ người đàn ông da đen mà tôi chưa bao giờ biết tên, ông đã dùng ngôn ngữ của trái tim để xoa dịu nỗi cô đơn, lạc lõng trong tôi.
Tiếng chuông tan lễ đã làm tôi chợt thoáng qua ý nghĩ hôm nào... thôi thì "Se Lòng" mình để bắt đầu một cuộc sống mới vậy. Mới từ ngôn ngữ, nơi trú ngụ, trường học, chợ búa, phố xá, kiến thức, phong tục, tập quán, cách suy nghĩ, hành động ... mọi thứ và biết đâu đến cả lòng người, nhưng có lẽ trái tim vọng cố hương trong tôi thì không thể nào mới được - tựa như cánh chim mãi mãi vọng trời xanh.
Như Thương
*Ảnh minh họa "Ở nơi tận cùng thế giới" của nhiếp ảnh gia người Nga Alessandra Meniconzi (Giải Nhất thể loại Phiêu lưu & Thám hiểm).

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

CHIA TAY NĂM CŨ

“Ò e cây me đánh đu, Tặc-dzăng nhảy dù, Zô-rô bắn súng. Chết cha con ma nào đây, thằng Tây hết hồn, thằn lằn cụt đuôi”.
CHIA TAY NĂM CŨ
...
Bài hát này có tên tiếng Pháp là Ce n’est qu’un au Revoir (hoặc Chant des Adieux), có nghĩa là Bài ca Tạm biệt, thường được hát khi chia tay nhau sau các buổi sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt là xuất hiện trong các buổi tiệc giao thừa của người Pháp.
Do người Pháp mang vào Việt Nam nên nhiều người Việt cứ nghĩ đây là bài hát Pháp. Thực ra, bài hát nổi tiếng khắp thế giới này có gốc gác từ xứ Scotland với tựa đề là Auld Lang Syne.
Auld Lang Sine là tiếng Scotland cũ, dịch ra tiếng Anh là “old long since” hay “long long ago” hoặc “in the days gone by”, nghĩa là lâu lắm rồi, ngày xửa ngày xưa… Đây là một bài thơ phổ nhạc theo âm điệu dân ca truyền thống của Scotland, do thi hào kiêm nhạc sĩ tài danh Robert Burns viết năm 1788 và nhanh chóng trở thành giai điệu âm nhạc phổ biến không chỉ ở các nước nói tiếng Anh mà còn nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới.
...
Auld Lang Syne đã được Việt hóa với ca từ đồng dao dễ nhớ mà ai cũng có thể ê a được như “Tò te, cây me đánh đu, Tarzan nhảy dù, Zo-rô bắn súng. Chết cha…”. Nó cũng “hóa thân” thành bài hát hướng đạo của miền Nam từ rất sớm với lời hát “Giờ đây anh em chúng ta cùng nhau giã từ lòng còn lưu luyến. Cách xa nhưng ta hằng mong rồi đây có ngày còn được gặp nhau…”
...
Bài hát nhắc nhở chúng ta rằng tất cả những kỷ niệm và những người bạn đều đáng quý. Một năm đã trải qua nhiều chuyện nhưng chỉ cần còn nhớ đến nhau, cùng nâng ly thì tương lai tươi sáng vẫn còn ở phía trước.
Chính ca từ và giai điệu dân gian vui nhộn đã khiến Auld Lang Syne trở thành một bài hát tình cảm, ấm áp và đầy sinh khí năm mới. So sánh với Happy New Year thì bài hát cổ xưa này thích hợp để hát mừng năm mới hơn. Chính vì vậy, ngoài Vương quốc Anh, Auld Lang Syne còn rất phổ biến tại nhiều nơi như Triều Tiên, Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Đan Mạch, Hy Lạp, Chile...
Do độ nổi tiếng, Auld Lang Syne có rất nhiều phiên bản lời, dịch cũng như các ca sĩ. Các phiên bản phổ biến nhất phải kể tới của Jimi Hendrix, Mariah Carey, Aretha Franklin và Billy Preston, The Beach Boys... Auld Lang Syne cũng từng được dùng làm nhạc nền cho bộ phim kinh điển La Valse Dans L’Ombre (Vũ điệu trong bóng mờ) với sự tham gia của minh tinh huyền thoại Vivien Leigh (nổi tiếng trong phim Cuốn theo chiều gió) và tài tử Robert Taylor.
...
Không ai có thể nhận định được phiên bản nào là hay nhất, đáng nhớ nhất. Bởi lẽ Auld Lang Syne là bài hát của tất cả mọi người, của khoảnh khắc để ta nhìn lại những năm tháng đã qua và hướng tới năm mới an lành trong niềm hân hoan, bồi hồi.
ĐNCT

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

CHƠI CỜ GÁNH

Trở về với dòng sông tuổi thơ...
CHƠI CỜ GÁNH
Đến tận bây giờ chẳng ai biết được gốc gác của trò chơi cờ gánh xuất phát từ thời điểm nào. Bà tôi nói rằng từ thủa thiếu thời những đứa trẻ để chỏm chăn trâu, chăn bò đã biết chơi trò chơi cờ gánh ấy. Có nhiều giả thiết khác nhau về sự hình thành của loại cờ đơn giản, độc đáo này nhưng tựu chung lại, nó là một nét văn hóa đặc sắc của con người nơi đây sáng tạo nên.
Khác với nhiều loại cờ khác như cờ vua, cờ tướng, cờ cá ngựa,… trò chơi cờ gánh không cần tốn tiền để mua nên rất được những đứa trẻ ở các vùng quê nghèo say mê, ưa chuộng. Trong ký ức chúng tôi ngày ấy, có tiền mua que kem, cái kẹo đã là hạnh phúc thì lấy đâu tiền để sắm bộ cờ vua, cờ cá ngựa như trẻ con thành thị.
Chỉ cần lấy vỏ của 8 con nghêu, hoặc sìa, chép chép,… đã ăn xong, tách làm đôi sắp hai mặt sấp ngửa, mỗi bên 8 quân lên mặt bàn cờ vẽ bằng gạch hoặc phấn là những đứa trẻ chúng tôi đã có một bàn cờ gánh đơn giản nhưng đầy trí tuệ, phóng khoáng. Trò này đơn giản hơn các loại cờ khác khi chỉ cần đi thẳng hoặc chéo theo đường vẽ trên bàn cờ để tìm những kẽ hở, biến quân đối phương thành quân mình. Cách chơi cũng hiện lên tính cánh không thích vòng vo, dài dòng mà đi toạc vào vấn đề của người xứ Quảng.
Khi lọt vào giữa hai đầu “quân” hay gọi nôm na là “gánh” đối thủ, lập tức những quân cờ bị “gánh” sẽ bị thu phục và chuyển sang phe mình. Cứ như thế cho đến khi nào phía đối phương hết quân thì ván cờ kết thúc...
Đơn giản là vậy nhưng trong bàn cờ gánh vẫn ẩn chứa nhiều nét thâm thúy, sâu xa gợi lên ước vọng và bản sắc của con người nơi đây. Trong các quân cờ trên một phía không hề có phân biệt hậu, vua, tướng, sĩ mà đều được di chuyển như nhau, bình đẳng như nhau. Nó toát lên mong ước về sự hòa hợp, bình đẳng trong cộng đồng con người, không có sự phân biệt thiệt hơn nên đây là một nét đặc sắc rất lớn trong cờ gánh.
...
(Trích trong "Mộc mạc trò chơi cờ gánh" của Quốc Tuấn đăng trênhttp://danviet.vn/que-nha/moc-mac-tro-choi-co-ganh)

CÁI BÁNH MEN CỦA MÁ *Hoàng thị Tố Lang

Ngọt ngào vị bánh tuổi thơ...
CÁI BÁNH MEN CỦA MÁ
*Hoàng thị Tố Lang
Ngày còn nhỏ bánh men có lẽ là thứ bánh mà chị em tôi được ăn nhiều nhất, và có lẽ vì bánh ở nhà má làm và ngoài ra không có các thứ khác nên đứa nào cũng thấy bánh men là ngon nhất, và cái cảm giác ngon đó vẫn còn khi mỗi lần nhắc đến bánh men, dù cũng có mấy mươi năm rồi tôi không có lần nếm lại chiếc bánh của thuở ấu thơ đầy kỷ niệm nầy.
Cái bánh men được làm từ bột gạo và bột năng với nước dừa, ngoài ra hoàn toàn không có một viên men nào trong đó. Vậy mà có cái tên là bánh men. Người VN là thế , nhìn hình dáng bánh và đặt tên.
Có lẽ nó tròn tròn nhỏ nhỏ xinh xinh như viên men làm cơm rượu nên được gọi là bánh men chăng? Ai là tác giả và làm ra cái bánh nầy tôi không biết song tôi nghĩ bánh có lẽ được chế biến từ một loại bánh của người Pháp na ná có hình dáng như vậy. Đó là bánh Macaron
...
Lần đầu tiên đi dự Party sinh nhật ở nhà một người bạn có chồng Pháp, bạn tôi khoe mới làm được loại bánh đặc biệt của bà mẹ chồng người Pháp truyền lại. Tôi nhớ bạn tôi bảo:
- Mi ăn thử bánh nầy nghe và nói cho ta nghe giống bánh gì của mình ở VN?
Đưa tay bốc chiếc bánh từ dĩa của người bạn trao màu hồng hồng, xanh xanh phơn phớt tôi bỏ ngay vào miệng. Nó tan ngay dưới đầu lưỡi của tôi. Tôi reo lên:
- Sao bột giống bánh men quá vậy.
Tôi bóc luôn hai ba cái bỏ vào miệng mà kêu nho nhỏ:
- Ta nhớ bánh men của má ta hồi xưa quá nhỏ ạ.
Tự nhiên lúc nầy có giọt nước mắt nào ứa ra ...Xa nhà đã hơn 30 năm tôi cũng có dịp ăn bánh men bên nầy trong tiệm bán nhập cảng từ VN song chẳng có cái bánh men nào ngon như của Má. Cái bánh của má không biết làm sao mà khi bánh nướng xong cái nào cái nấy cục bột vò nhỏ xíu mà nở tròn xoe trông thấy mà mê, bỏ vào miệng nó tan dần cho đến cái lớp dòn dòn sau cùng. Mấy chị em tôi mà xúm lại không đầy 20 phút là thanh toán hết thùng bánh của má. Trời ơi cái mùi nước dừa béo ngậy thơm phức nó quyến rũ làm sao. Bên tôi con nhỏ bạn vẫn tía lia, líu lo:
- Thèm bánh men ăn bánh nầy cũng đỡ ghiền phải không mi, mà nè không ai làm bánh men ngon mà khéo như mẹ của mi nhỏ ạ, cái bánh phau phau nhỏ xíu thấy mà mê luôn. Tôi nghe một niềm hãnh diện nào đó vô cùng trong câu nói của bạn. Má tôi mê làm bánh lắm, hồi còn con gái Ngoại cho tiền là Má để dành để đi học làm bánh. Má làm bánh thửng thấy mà thương 3 cánh nở đều đặn trắng muốt như một đóa hoa. Tôi mê bánh bò khoai tím của Má làm sao. Bây giờ nhớ lại ngày ấy sao mà thương quá đỗi.
Con nhỏ bạn nhắc Má làm tôi ngùi ngùi. Nhà con đông với đồng lương khiêm tốn của công chức phải tiện tặn lắm má mới nuôi nổi một bầy con 9 đứa. Cái gì má cùng nấu lấy ở nhà cho đỡ tốn. Còn cái chuyện bánh men cũng vậy. Má làm nhiều và lặn lội đi hỏi các tiệm tạp hóa gần nhà bỏ mối để lấy vốn lai. có bánh dư cho gia đình ăn mà không phải chi tiêu tiền quà bánh cho con. Rồi bánh men của Má lan truyền có tiệm đến nhà đặt, tôi lúc đó khoảng 12 tuổi thôi, hàng ngày sau khi đi học về tôi phụ má đạp xe đạp đem bánh giao đến tiệm cho người ta. Ngày ấy tôi nhỏ xíu như con ốc tiêu chiếc xe máy đầm cao quá không ngồi tới trên yên để đạp được tôi ngồi lọt thỏm ở cái sườn xe, hai tay hai thùng bánh tôi đạp cà thọt thế mà cùng tới tiệm giao được cho các tiệm. Đôi khi thấy con bé nhỏ xíu mà có vẻ bương chải, dễ thương chủ tiêm thương nhét thêm vào túi cho vài đồng tiền lẽ để ăn quà .
Trong khoảng thời gian đó má có mang em tôi và đang lúc nướng bánh má lại chuyển bụng sanh . Chị em tôi quýnh quáng không biết làm sao bèn chạy kêu bà mụ vườn trong xóm sang đờ đẽ cho Má. Thế rồi tôi nghe tiếng khóc oa oa , em tôi chào đời giừa lúc thau bột làm bánh men còn đầy ấp chưa nướng xong. Tôi chỉ biết ăn bánh và phụ má đi bỏ bánh thôi chớ tôi biết nướng làm sao nè trời , chả lẽ bỏ thau bột đi, tôi cũng làm liều ngồi xuống điều binh khiển tướng mấychị em vo vo nắn nắn tròn tròn như má mà sao không biết sao kết quả là một thùng bánh xẹp lép trông mà buồn cười. Cả buổi chiều hôm đó mấy chị em ăn bánh men thay cơm. Lớn lên em tôi nghe thuật lại chuyện nầy con bé cười khoái chí lắm. Những khi chị em đùa giỡn tôi hay bảo em:
- Hèn chi cái mặt mi tròn như cái bánh men của má vậy.
Cho đến bây giờ tôi nghiệm ra một điều mà ngày còn nhỏ không biết. sở dĩ cái bánh men của má ngon nhứt thế giới như vậy vì trong đó đã gói trọn cả tình Mẹ thương con . Nó có mùi của Mẹ . Tôi nhớ có lần tôi dắt các con đến quán ăn VN có tiếng ở thành phố nầy mà chủ nhân là một người bạn thân. Thấy mấy mẹ con đến bạn tôi mừng lắm và bày ra mấy bát bún riêu mới nấu cho mẹ con tôi ặn. Con nhỏ bạn đon đả lại bên các con tôi hỏi:
- Bún riêu bác nấu ngon không con?
Con tôi trả lời một câu mà tôi không bụm miệng nó kịp.
Con bé lắc đâù nguây nguẩy và bảo:
- Dạ Không ngon bằng của Mẹ Ty đâu.
Bà chủ nhà hàng hơi ngỡ ngàng, có vẻ buồn, mình là chủ nhà hàng, là dân Bắc Kỳ được báo chí đánh giá là nhà hàng 5 sao mà bị con bé chê nấu bún riêu thua mẹ nó là dân Nam Kỳ. Tôi phải tiếp lời con:
- Thì Mẹ hát con vỗ tay đấy mà mi ạ. Mẹ nấu mà chê thì có nước là đói ...
Thì ra tình mẹ nó đầy cả phảng phất trong từng miếng bánh, từng chén cơm, bát bún mà.
Mấy mươi năm trôi qua chị em tôi tản mác khắp nơi đứa chân trời người góc bể, mái nhà xưa Má còn đó vò vò một mình mà thương mà nhớ bóng hình xưa ngày tháng cũ, và tôi biết trong tôi hình ảnh cái bánh men của má vẫn là hình ảnh thật tuyệt vời nói lên cái đức tính cần kiệm và khéo léo của Má tôi nói riêng và của người đàn bà VN nói chung. Cái bánh men ân tình của má qua bao năm vẫn còn đó, mãi mãi như là một câu chuyện cổ tích thần thoại mà tôi hay kể lại cho các con tôi nghe và tôi nghĩ sau nầy câu chuyện nầy sẽ được truyền đến đời sau kể đến cho cháu tôi nghe mà má tôi là một bà tiên nhân hậu vô cùng trên cõi đời nầy.
Và hơn lúc nào hết tôi thèm một lần nào đó trở lại quê nhà cùng Má làm lại cái bánh men kỷ niệm năm xưa ....
HOÀNG THỊ TỐ LANG