Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2017

Như loài hoa báo đông về trên cao nguyên... HOA DÃ QUỲ

Như loài hoa báo đông về trên cao nguyên...
HOA DÃ QUỲ
Trong hình ảnh có thể có: mọi người đang đạp xe, xe đạp và ngoài trời
Dạo ấy, trên những ngả đường từ Kim Châu, Hòa Đông, Đạt Lý hay Duy Hòa, Ea Pốk… đổ về Ban Mê Thuột đều nhuộm rực sắc vàng. Ngắt một đóa hoa lên ngắm nghía, bạn triết lý rằng: “Sống được như dã quỳ không dễ, bởi một lần được nở, thì cuộc đời thảo dã kia như vắt kiệt hết mình cho sắc màu chất ngất ấy. Đến lúc vàng phai thì gục xuống và tan vào trong đất, đợi đến kỳ đông tàn, xuân sang lại vươn mình đứng dậy, khoe một sắc vàng như không thể vàng hơn…”. Nhân sinh là vậy, nên khi ai biết được dã quỳ là sự hóa thân của một tình yêu thì sắc vàng kia không còn là màu mè nữa, mà đó chính là “lửa lòng” thổi bùng lên từ mối tình son sắt giữa chàng K’Lang và nàng H’Limh thuở nào...
...
Truyền thuyết có hay không và dưới tên gọi nào không quan trọng, chỉ sắc vàng “như không thể vàng hơn” mà bạn nói với tôi tựa một tuyệt tác của trời đất ban tặng cho Cao Nguyên vào mỗi độ cuối đông, đầu xuân về là điều rất thực. Nhìn hoa nở miên man giữa trập trùng lũng dốc thì không ai không dừng lại ngẩn ngơ…
(Trích theo "Nỗi nhớ dã quỳ" của Phương Đình đăng trên báo Đăk Lăk)
---
Dã quỳ là loài hoa “di cư” có hình dáng như hoa cúc vàng, mọc hoang trong rừng, thân cao hơn 1m do người Pháp mang đến trồng ở Đà Lạt vào đầu thế kỷ thứ 20 để trị bệnh ngoài da cho người và làm phân xanh bón lót cho các loại hoa trồng khác, rồi dần dần phát tán đến mức nhuộm vàng cả vùng đất cao nguyên. Dã quỳ có cái tên nghe buồn buồn, chúng mang thân phận ôsin cho người, cho hoa và cho đất. Mãi đến bây giờ người ta vẫn hái lá về nấu nước tắm trị ghẻ cho trẻ con. Còn người có tuổi, chiều chiều ra trước hiên nhà đứng ngắm để lòng mình ấm lại khi những đợt gió bấc thổi về. Hoa dã quỳ bỗng nhiên trở thành niềm an ủi cho những tâm hồn đi hoang... Đối với dân lao động hay những người dân tộc anh em có gốc Tây Nguyên nó là lộc của trời, các sơn nữ thường cài lên tóc để đồng hành với nắng gió. Đã bao đời nay, màu vàng rực của hoa dã quỳ như ngọn lửa nhóm lên trong lòng những cư dân xứ lạnh.
Tôi còn nhớ một nhà văn nói rằng “Hoa dại chỉ đẹp khi ở đồng nội”. Điều ấy có lý, ai cũng thấy hoa dã quỳ vàng, hoa mua, hoa sim, tím cả chiều hoang. Chúng mang vẻ đẹp hiền lành không se sua, đài các. Cũng giống như những loại hoa đồng nội khác vẻ đẹp của hoa dã quỳ là cộng hưởng, chúng chỉ trở nên nỗi nhớ khi tồn tại nơi quê quán của mình, nếu tách ra từng cành sẽ trở nên đơn điệu tẻ nhạt. Loài hoa dại mang cái tên buồn buồn mà người Tây Nguyên đã gán cho nó. Chuyện kể rằng Dã Quỳ là tên của một sơn nữ Jarai xinh đẹp, trót yêu một chàng trai khỏe mạnh cùng buôn làng, nhưng bị người mình không yêu thương bắt về làm vợ. Vì thế nàng trèo lên đỉnh núi quyên sinh để giữ sự trinh trắng của mình. Thân xác của nàng hóa thành tro bay đi theo gió, trở thành những rừng hoa đơm bông vàng rực như những giọt nước mắt của câu chuyện tình không có phần kết! Cảm động trước mối tình thanh khiết ấy nên người ta lấy tên của nàng đặt cho một loài hoa. Và hoa dã quỳ trở thành hình ảnh của những người con gái cao nguyên, dịu dàng mạnh mẽ, sống hết lòng cho tình yêu đôi lứa. Có lẽ từ truyền thuyết này mà Đà Lạt đã chọn dã quỳ làm biểu tượng cho Festival hoa trong mỗi lần tổ chức.
...
Đứng giữa các triền đồi và thảo nguyên mênh mông ngắm nhìn rừng hoa dại rập rờn theo gió. Nhất là những buổi chiều nắng vàng nhuộm lên, bạn sẽ thấy đất trời tĩnh lặng làm cho bạn có cảm giác cao nguyên này chỉ dành cho riêng mình. Lúc ấy bạn dường như muốn quên hết mọi vật vã đời thường, quên đi năm tháng, thậm chí quên luôn mình là ai. Đối với những người có thói quen sống hoài niệm theo bóng thời gian, khi nhìn cánh đồng dã quỳ khoe sắc dưới trời xanh mây trắng mới nhận ra được trên đời này ta còn nợ với thiên nhiên...
...
Con người chắc không ai vô tình trước vẻ đẹp tự nhiên của loài hoa đồng nội, vì nơi ấy, không những là hồn đất, mà còn là kỷ niệm của một đời người. Khi người ta yêu con đường mình đi, ngôi nhà mình ở, cái cây mình trồng và yêu cả cánh đồng thời thơ ấu, người ta mới có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc. Tôi nhớ vào thời cấp I, được các thầy cô giáo bắt học thuộc lòng bài hát “Cái nhà là nhà của ta/Ông cố ông cha làm ra/ Chúng ta phải gìn giữ lấy/ Muôn năm nhớ nước, ơn nhà”. Ngày ấy suốt ngày bọn trẻ chúng tôi cầm tay nhau hát nghêu ngao mà không hiểu gì. Nhưng bây giờ thì khác...
(Trích theo "Mùa hoa dại ở Tây Nguyên" của Trần Đại đăng trên báo Lâm Đồng)

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, ngoài trời và thiên nhiên
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên

Rừng cao su ở Ban mê bắt đầu thay lá... MÙA TRỞ GIÓ



Rừng cao su ở Ban mê bắt đầu thay lá...
MÙA TRỞ GIÓ 
Trong hình ảnh có thể có: cây, thực vật, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên
...
Cảm giác những con gió ùa xuyên qua những vườn cà phê, qua cây cối, hơi lạnh, hơi miên man, gió lùa qua tóc khiến cho người ta có chút mát lạnh, có chút mơ hồ, chút hồi tưởng về những ngày cũ.....
Những cơn gió đưa những ký ức trở về...
...
Ngày đó đi học, cảm giác mỗi lần gió thổi ào ào, cuốn lấy cơ thể, có khi như muốn lôi mình bay đi, cuốn cả cát bụi đất đỏ, mùi trong gió phức tạp lắm, nhưng mà thích, có chút mùi hanh khô, có gì đó hơi nồng, đậm, mùi của cây cỏ, của cà phê, của đất,.......có khi có cả mùi khói bếp, tất cả mùi hương quen thuộc nơi này...
Đến bây giờ, mỗi khi tới mùa gió, tôi lại luôn muốn bước ra đường, để gió cuốn bản thân mình vào những hồi ức, những gì đó thân quen mà không thể diễn tả hết được, cái cảm giác cảm nhận được 1 thứ quen thuộc khiến ta bất giác cười một cái vu vơ, một nụ cười khờ nhưng chân thật nhất có thể.......Rồi tôi lại muốn lạc mình vào vườn cà phê, để gió rít len qua những cây cà phê xào xạc, cảm nhận mình đang chìm trong màu xanh, cảm nhận sự an toàn...
...
Tôi yêu nơi này, vì đây là nơi tôi sinh ra, lớn lên, là nơi cho tôi những xúc cảm mãnh liệt nhất, nơi này đã tặng cho tôi những cảm xúc, những giác quan, những cảm nhận đặc biệt cho cá nhân tôi, nơi này là nơi ba mẹ tôi đã gặp nhau, là nơi họ bám trụ, đổ mồ hôi, gây dựng nên gia đình, nơi họ nuôi anh chị em tôi lớn, nơi này là nơi tôi có những kỷ niệm đặc biệt, bước đi đầu tiên, lần đầu tiên đi học, lần đầu tiên bị điểm kém, lần đầu tiên biết hái cà, lần đầu tiên biết đi xe đạp,.......Vô số những cảm xúc dâng trào trong tôi lúc này, không biết làm sao có thể diễn tả, có lẽ chỉ những ai như tôi, lớn lên ở đây mới có thể hiểu hết được...
Tôi đang nghĩ, liệu bây giờ có bao nhiêu người như tôi, đang nằm nghe gió thổi và rồi hồi tưởng lại quá khứ đã qua, rồi tự mỉm cười với mình, cảm thấy mệt mỏi tan biến, chỉ lặng im, nằm nghe gió rít qua cây cối, qua khe cửa, có lẽ, còn có người điên giống như tôi đã từng điên đó là ra hẳn ngoài sân, ngồi nghe gió thổi, ngồi ngắm trời đất, ngồi đó cho gió ào ào ôm lấy mình.....
Nơi này lúc nào cũng thế, luôn có 1 cách riêng khiến ta không muốn rời xa....
(Trích trong "Buôn Ma Thuột, mùa trở gió..." của Đơn Ngư đăng trên
https://guu.vn/myguu/)

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

LAN RỪNG VỀ PHỐ

Ôm núi mưu sinh...
LAN RỪNG VỀ PHỐ
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, thực vật và ngoài trời
Lan rừng ở Dak Lak có hàng trăm loại, trong đó, có cả những loại lan quý như: nghinh xuân, tóc tiên, đuôi chồn, quế hương, bạch ngọc, hồ điệp trắng...
Nhưng những năm gần đây, người đi tìm lan ngày càng nhiều khiến loài thực vật này giảm dần. Muốn có lan đẹp, lan quý bán có giá thì người đi lấy lan rừng phải có tài đi rừng để vào tận rừng sâu, có khả năng leo trèo để trèo lên những thân cây cao lấy lan. Phong lan thường mọc ở những thân gỗ mục nên chuyện gãy cành, té ngã, bị bong gân, trật khớp là chuyện thường.
Vừa giới thiệu cho khách loại lan mới lấy về, chị H’Ết (thôn 4, xã Cư Êbur) nói rằng, những năm trước, lan rừng khá phong phú, mỗi chuyến săn lan rừng chỉ dài 1-2 ngày. Vài năm trở lại đây, để có lan đẹp, lan quý, chồng chị phải gùi cơm, gùi gạo vào tận những cánh rừng sâu ở các huyện Ea Súp, Krông Bông, M’Drak, thậm chí là sang đến tận rừng ở tỉnh Kon Tum và biên giới giáp Lào. Và những nguy hiểm trong các chuyến đi rừng của chồng chị là không tránh khỏi. Anh Y Lin – chồng chị H’Ết kể: Vào năm trước, anh cùng 2 người bạn chuẩn bị lương thực dự định đi săn lan khu vực rừng núi giáp Lào với thời gian 3 – 4 ngày. Nhưng trên đường về anh bị rắn cắn, phải băng bó, nằm cáng để bạn khiêng về Đồn Biên phòng. May được người dân, bộ đội Biên phòng cứu giúp kịp thời nên anh mới giữ được tính mạng. Toàn bộ vật dụng, số lan thu hái được phải để lại trong rừng, chuyến đi đó coi như mất trắng…
(Trích theo "MÙA LAN RỪNG XUỐNG PHỐ" của Minh Nhật đăng trênhttp://baodaklak.vn/)
---
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, thực vật, hoa và ngoài trời
Mười giờ sáng. Ðà Lạt nắng lạnh ngọt lành. Lâu rồi, Cil Trang (xã Tà Nung, cách Ðà Lạt khoảng 16 km) mới có lan rừng đem xuống phố. "Con rể và con trai xuống tận rừng giáp ranh Bình Thuận một tuần, mười ngày mới có chừng 80 giò lan mang về à. Vậy là đủ lo cho gia đình rồi" - Cil Trang thổ lộ. Hơn 20 năm "xuống núi" bán lan rừng, Cil Trang đã thuộc làu những góc phố Ðà Lạt, sành sỏi trong phân biệt chủng loại lan để "ra" giá, từ loài hồ diện đến lan kim điệp, ngọc điểm... Bao nhiêu năm như vậy, đường vào chợ Ðà Lạt, phố Quang Trung đã quá quen với họ, chỉ vài người xuống bán. Sáng đến chiều, kiểu gì cũng phải về, cho dù vẫn còn hàng ế, "mai lại xuống tiếp thôi".
...Giờ lan không nhiều nữa. Rừng gần đã cạn kiệt, phải vào tận rừng sâu. Vào rừng, nhiều hiểm nguy lắm, nhưng cũng phải đi thôi... Người Cơ Ho không còn mùa "nhàn rỗi" nữa. Lan tự nhiên ngày càng hiếm. Mỏi mắt, mỏi chân, vào tận những khu rừng giáp ranh Lâm Ðồng với Ðác Lắc, Bình Thuận, Khánh Hòa, lâu lâu mới gặp lan hiếm.
(Trích theo ""Xuống núi" mưu sinh" của Mai Văn Bảo đăng trênhttp://www.nhandan.com.vn/)
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, thực vật và ngoài trời

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

TRÁI RỪNG NGÀY XƯA

Nhớ rừng...
TRÁI RỪNG NGÀY XƯA
Trong hình ảnh có thể có: thực vật, hoa, thiên nhiên, món ăn và ngoài trời
...
Hồi ấy, rừng vẫn còn là một thế lực của thiên nhiên nghìn đời, u tịch, thâm nghiêm và huyền bí. Con người có thể phá rừng làm rẫy, chặt cây làm nhà, truyền đời tác động đến rừng để tìm kiếm miếng ăn, nhưng rừng vẫn tái sinh mạnh mẽ, và đến khi con người gối mỏi chân chồn thì rừng lại tiến sát như muốn nuốt chửng ruộng rẫy, nuốt chửng con người.
Hồi ấy, ngay trước nhà tôi là rừng. Cây cổ thụ vẫn hiên ngang đứng giữa làng, và người ta tin là có thần trú ngụ nên không ai dám hạ. Ba tôi phát một khoảnh để trỉa bắp, nhưng, để biến rừng thành rẫy là một công việc cực khổ trần thân. Phát rẫy xong, vừa tra hạt giống xuống thì chồi cây đã mọc lại. Muốn chiếm đất của rừng, phải còng lưng đào, đánh bật được gốc rễ thì hoạ may cây mới chết. Sức người có hạn, nên dù không có ai giữ rừng thì rừng vẫn trường tồn, vẫn mạnh mẽ vượt lên trên mọi khát vọng chinh phục của con người.
Rừng bao vây tứ bề, che giấu bên trong là hùm beo, là rắn rết, nên muốn an toàn, lúc nào trong tâm tưởng một đứa trẻ, là tôi, cũng muốn có được một sức mạnh siêu nhiên để đẩy rừng lùi xa.
Sợ rừng, nhưng cây trái của rừng thì tôi lại thích. Rừng bao la, lúc nào cũng sẵn bao nhiêu là hoa quả, có loại biết tên, có loại phải tự đặt theo ý thích của mình. Ngay trên đường đi học, bọn trẻ tuị tôi vẫn có thể hái được trái rừng. Mấy bụi vú bò mọc sát đường đi, thả những chùm quả vàng xuống ngay trước mắt. Còn cây trâm quả tím, ngọt thanh, là nơi mà mỗi lần đi học về bọn trẻ chúng tôi đều ghé. Trái cò ke khi chín ngả sang màu nâu thẫm, ngậm vào miệng là nghe vị ngọt thấm tê cả lưỡi, nuốt đến bụng rồi mà cái mùi thơm dìu dịu vẫn còn bám mãi bờ môi.
Tuổi thơ khốn khó, chẳng mấy khi được cho quà, nên mỗi khi ba đi rừng, tôi vẫn thường ra ngõ ngóng chờ; và bao giờ cũng vậy, dù vác cây trên vai nặng trĩu, ba vẫn không quên tìm hái cho chúng tôi một vài loại quả rừng nào đấy. Trái cây rừng thì nhiều, màu sắc, hình thù đa dạng, nhưng không phải thứ gì cũng ăn được. Ba phải hỏi nhiều người, và phải ăn thử rồi mới hái về cho chúng tôi. Trong các loại quả rừng, tôi thích nhất là trái gùi. Cứ vào độ tháng năm, khi những cơn mưa đã xối xả vào mùa thì trên rừng trái gùi cũng chín. Các anh tôi phải làm việc cật lực hơn, để xong muà trồng trỉa thì theo bạn lên rừng hái gùi. Sau này lớn lên, tôi cũng vài lần được đi theo, và với tôi, đó là những kỷ niệm đẹp không dễ gì quên được.
Sáng, khi chân trời phiá đông vừa phớt ửng, một đoàn lóc nhóc năm, sáu đứa con nít, mang gùi còn sệ đến mông, hăm hở gọi nhau lên đường. Đường rừng quanh co, lại nhiều ngã ba, ngã bốn, nên chúng tôi phải đánh dấu để còn biết đường về. Khó nhất là khi phải cắt rừng, bỏ đường này nhưng lại gặp đường khác là lúng ta lúng túng, đôi khi hoảng loạn, thảng thốt gọi để rồi hoang mang khi chỉ nghe thấy tiếng của mình vọng lại âm âm.
Gùi là một loại dây leo chắc khoẻ, thường bò trùm lên các loại cây khác để giành lấy ánh mặt trời, vì vậy, hái gùi là một công việc không hề đơn giản. Trái gùi khi chín rất mềm, chỉ cần rơi từ độ cao vài ba mét là nát bấy, nên không thể hái bằng sào được. Cũng may mà rừng rất nhiều gùi, nên chúng tôi chọn những cây nhỏ, đốn hạ để hái. Nếu gặp mùa gùi chín rộ, chỉ cần hạ một cây thôi cũng đủ cho bốn, năm người hái đầy mỗi người một giỏ. Trái gùi ngọt, không gắt, nên có thể ăn no mà không ngán. Đôi khi cũng có trái có vị chua, nhưng không nhiều.
Sau khi muà gùi hết thì cây trường trong chân núi cũng chín vàng. Do trường là loại cây lớn, trái nhiều, lại có nhiều nhánh, dễ trèo nên bọn trẻ tụi tôi rất thích. Hàng ngày, sau khi lên núi chặt củi, bẻ măng, bao giờ tụi tôi cũng ghé qua chỗ cây trường, leo trèo thoả thích rồi mới về. Trái trường nhỏ như ngón tay, ăn bùi bùi, ngòn ngọt, và có mùi thơm dịu.
Rừng mênh mông, nhưng các loài thực vật thì tùy theo sự thích nghi mà phân bố rải rác. Thanh trà và ươi thì mọc nhiều ở núi Ông. Cuối mùa nắng, trái ươi rụng đầy gốc, và chỉ cần một cơn mưa đủ lớn là nở bung, tạo thành một tấm thảm nhầy nhầy ngập lút cả bàn chân. Trái ươi ngâm nước, cho thêm ít đường, ăn rất mát. Còn thanh trà, về hình thù thì chẳng khác trái xoài là mấy, nhưng nhỏ hơn rất nhiều, có vị chua chua, ngọt ngọt, mấy năm trước vẫn còn bán đầy chợ huyện. Ngoài ra, rừng Tánh Linh còn có trái viết, trái xay và rất nhiều hoa quả khác, vốn một thời là món quà thân thuộc và rẻ tiền của đám học trò nghèo nơi miền sơn cước.
Ba tôi không còn. Rừng cũng đã bị đẩy xa về phía núi. Bằng thuốc khai hoang, bằng máy cưa, máy ủi, con người đã khiến những cánh rừng phải run rẫy lùi xa...
Tôi đang nhớ rừng, hay nhớ những kỷ niệm thời thơ ấu của mình, tôi cũng không biết nữa.
(Trích theo "Cây Trái Rừng Xưa" của Lương Văn Lễ đăng trênhttp://tanhlinh.vn/vi/news/)

Trong hình ảnh có thể có: trái cây và thực vật

Trong hình ảnh có thể có: thực vật, thiên nhiên và ngoài trời


Trong hình ảnh có thể có: thực vật và món ăn

HOA XUYẾN CHI

Chỉ là một loài cỏ hoang dại mọc khắp nơi trên quê hương...
HOA XUYẾN CHI
Trong hình ảnh có thể có: thực vật, hoa, ngoài trời và thiên nhiên
Xuyến chi chỉ là một loài hoa dại nhỏ bé.Ta có thể bắt gặp nó ở những nơi nào hoang dã hay ở đường tàu, bờ ruộng. Xuyến chi gắn liền với tuổi thơ tôi từ những ngày còn cầm rổ đi đào rau má. Hồi đó, tôi đã rất thích loài hoa này, thấy nó dễ thương chi lạ. Hái hoa về cắm, chơi đồ hàng, rồi khi thích chí lại kết nó thành những vòng hoa đeo trên đầu để làm công chúa.
Chuyển về thành phố, tôi xa dần hoa xuyến chi, thỉnh thoảng cũng bất chợt bắt gặp nó ven đường nhưng cũng không có đủ thời gian để nhìn ngắm nó.
Tết vừa rồi mới có dịp đi dạo trên đồi và gặp lại ... xuyến chi.
Luôn như vậy, dù ở bất cứ nơi đâu. Vẫn màu hoa ấy , màu nhụy ấy. Dễ thương và trong sáng. Mảnh dẻ nhưng mạnh mẽ, đương đầu với gió mưa. Và cứ thế sức sống lan tỏa, hoa mọc ra hoa. Một đám hoa rồi sẽ thành một đồng hoa.
Và tôi nhận thấy một điều rằng : Ở đâu có hoa thì ở đó có sự sống.
Sự sống làm nên hoa? Hay chính hoa làm nên sự sống?
Không phải, mà là sự sống nảy sinh từ lòng dũng cảm. Dũng cảm đương đầu với khó khăn mà không phải loài hoa nào cũng có thể làm được.
Tôi ước mình có thể làm được điều mà xuyến chi bé nhỏ đã làm.
---
Em thách cưới một vòng hoa xuyến chi
Để tôi suốt trưa mải mê khắp triền đồi lộng gió
Bới tung từng bụi cỏ
Khấp khởi vui mừng khi tìm được một nụ hoa…
Cô dâu con con lộng lẫy kiêu sa
Cưỡi ngựa mo cau tôi đưa em về xóm nhỏ
Nơi đó nhà tôi lồng đèn dâm bụt treo trước ngõ
Cô dâu thẹn thùng cười – má đỏ bồ quân
Hai họ - con nít cởi trần gióng trống múa lân
Bày tiệc khế chua ổi xoài bắp nướng
Chú rể cô dâu nhìn nhau cười sung sướng
Hai họ chúc mừng: xứng lứa vừa đôi!
Cô dâu ngày xưa giờ ở chốn xa xôi
Tuyết trắng quanh năm xuyến chi đâu sống nổi
Tôi vẫn kết vòng hoa dù chẳng ai đội
Theo gió chạy lên đồi tìm vết cỏ ngày xưa…
(Hoa Xuyến Chi - Phạm Vũ Ngọc Nga)
---
Mưa tạnh từ lâu, chút nắng yếu ớt rải vàng lưu luyến trước khi về trời. Mắt tôi dừng lại ở một vạt hoa. Cành thấp cành cao chao nhẹ đùa vui trong gió mơn man. Ồ, phải rồi, trong bó hoa tặng tôi, có nhiều bông hoa này đây. Năm cánh màu trắng nở tròn như đồng xu xoay quanh nụ vàng thắm. Chúng cứ đong đưa nụ cười duyên đẹp đến nao lòng. Sao bấy lâu nay mình chẳng để ý tặng vật của trời dù có thể nhìn thấy khắp nơi.
Loài hoa thật kỳ lạ có thể mọc bất cứ chốn nào. Giữa vùng sỏi đá khô cằn, vô vàn bông hoa cứ vượt lên không dễ tàn lụi. Hồn nhiên khoe mình giữa nắng hạ chói chang, đắm chìm trong những cơn mưa xối xả mùa đông. Trong hơi lạnh buốt, hoa cứ nở bung tràn trề sức trẻ. Lặng lẽ sống hết mình giữa tất bật đời thường, mặc người thờ ơ.
Hoa hồng đài các thay lời tình yêu, hoa huệ trắng trong gợi lòng thành kính, hoa ly kiêu sa tỏ bày bè bạn...
Những bông hoa trắng sữa không chọn cho mình chỗ đứng nào và cũng chẳng nói với ai điều gì. Người ta hững hờ nhắc đến hoa cúc dại, hoa đường tàu... Không, đó là hoa xuyến chi. Cái tên đủ làm xao xuyến lòng người.
(Trích theo Ý NGHĨA CỦA HOA XUYẾN CHI đăng trênhttp://www.phununet.com/)
Trong hình ảnh có thể có: thực vật, hoa, ngoài trời và thiên nhiên

Trong hình ảnh có thể có: hoa, thực vật, thiên nhiên và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: thực vật, hoa, thiên nhiên và ngoài trời

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

RỪNG ĐÓT NĂM XƯA

Lộc rừng mùa xuân...
RỪNG ĐÓT NĂM XƯA
Trong hình ảnh có thể có: thực vật, cỏ, cây, ngoài trời và thiên nhiên
Lang thang đọc báo trên mạng chợt tôi chú ý về chuyện cây đót miền núi Việt Nam hiện nay đang được "nâng cấp " đến cái tên là "lộc rừng", khiến tôi nghĩ đến muôn triệu 'của trời cho ' từ rừng mà cây đót là một. Chuyện đáng ngạc nhiên vì ngày xưa người ta chưa kể "số vào đâu" chuyện cây đót hay nguồn lợi về đót. Thế mà thời nay đót cũng là "cơm gạo áo tiền" cho người miền núi và dĩ nhiên là ...nghèo!
Cây đót mọc nhiều ở đâu? có thể là dọc theo dãy Trường Sơn miền Trung vùng khí hậu nóng ẩm hơn miền Bắc. Miền núi Quảng Trị, từ những rú càn La Vang, Tích Tường, Như Lệ, Ái Tử đi lên chúng ta đã thấy nhiều đồi đót mọc chen với lau lách. Ba năm 1975-1977 ở "Trại 4 Ái Tử", trại tù phía lưng Chùa Sắc Tứ ngó lên. Chúng tôi từng toán đi kiếm đót về, phơi khô thân đập ra và đan thành từng tấm phên vuông, lót nằm.
Sau này tôi lại có thêm kỷ niệm về đót do những năm tại Bình Điền, chúng tôi từng đi hái đót mang về cho Trại hay cho cái "nợ trần gian"đó là "lao động cải tạo ".
Ôi! những rừng đót Bình Điền, nhất là dưới chân ngọn núi từng mệnh danh là "Bastogne" Tây Nam Huế đến mùa nhiều vô số kể. Ngày nay gọi là "lộc của trời" hái ra tiền bạc cho dân mình , thì ngày xưa chỉ có giá trị đối với đời tù vài khúc sắn nấu , chia cho phần trưa sau khi hoàn thành nhiệm vụ bẻ đót cùng "cân" đót . Hình ảnh nồi quân dụng canh sắn cắt mỏng, nêm ruốc Thuận An loại "quỷ tha ma bắt" vỏ giòi nổi lềnh bềnh, nhưng cũng còn "chất lượng" hơn món "canh đại dương" trong trại.Tôi xin bỏ qua chuyện này để tiếp về câu chuyện của đót và rừng Bình Điền Tây Nam Huế.
Những toán tù được "giao khoán" cân lượng, chia lại cá nhân mỗi người bao nhiêu ký đót. Bạn đọc có thể thắc mắc tù thì đi hái đót làm gì? Hồi này cũng là "lộc của trời" nhưng lộc này thì cho Trại về bán cho Huế đó thôi. Những năm 1979 và 1980 có thể người dân Huế có dùng những cái chổi đót được hái từ rừng Bình Điền cũng nên.
Đi bẻ cây đót thật vui vì chúng tôi có dịp "dạo chơi", chen lẫn trong rừng đót, được những giây phút thảnh thơi với hoa lá không có ai canh giữ theo mình. Đỉnh Bastogne không còn xa xôi nữa; nó, trước mắt chúng tôi và chẳng còn cao vì chúng tôi đang ở cạnh nó. Cách bẻ đót khá dễ dàng. Khi hoa đót bắt đầu bung, màu còn hơi xanh, là thời gian tù đi "thu hoạch ".
Không dùng liềm, cũng chẳng phải bẻ 'ngang xương'. Một tay nắm phần lá ngang cái đốt chúng ta muốn bẻ, tay kia cầm bông đót bẻ về phía ngược chiều, thì bông đót tự dứt ra, không còn dùng dằng, mất thì giờ nữa. Đi hái đót buổi đầu, "năng suất" còn thấp, qua buổi thứ hai thì quen tay, chúng tôi tăng dần lượng đót.
Cây lách rừng "ranh ma", mọc xen trong rừng đót. Phần mép lá của cây lách sắc "hơn dao cạo", bao nhiêu lần đứt tay máu chảy ròng ròng; "đưa miệng mút" cầm máu, rồi cũng xong.
Mùa đót vào tháng nào chúng tôi chẳng nhớ?mà chẳng cần nhớ làm gì! Nhưng đót không thể "rủng rỉnh" đợi mà trại phải làm gấp chỉ ít tuần trong mùa "ĐÓT RỘ" thôi. Huế lúc này làm sao mua hết đót trên rừng? Huế sau năm 1975, chỉ còn vài con phố "hiu quạnh". Chủ nhân lớp ở tù, lớp "mất hút" phương xa. Những bà mẹ Huế mãi ngồi "chờ con";đứa ở tù, hay có đứa 'đi mãi' không về, nên để tường ố nhện nhăng.
Phố Huế đìu hiu- u buồn khi khách vắng teo. Chẳng ai màng quét dọn, thì làm sao đót từ rừng về thành phố bán chạy? Vài dãy phố mua bán cầm chừng, tiền bạc hiếm hoi, chuyện "lộc trời" chắc gì khấm khá?
Xưa, tôi có khi tay cầm chổi đót. Tôi còn nhớ hình dạng cái chổi, qua tay người dân quê hay người thợ nào đó bó cho mà dùng. Giờ, tôi đứng đây giữa rừng đót Bastogne ngày xưa "gầm vang' đại pháo, 155, 175 ly? tất cả đã trả lại im lìm muôn thưở cho núi rừng Truờng Sơn. Lòng cảm thấy vui vui, tôi như như một khám phá "bất ngờ và lý thú" nào đó...
Cứ trưa trưa mỗi người mỗi vác đót thật lớn đứng xếp hàng "đếm số" vào lại cổng trại. Cái sân trại giờ đây phơi đầy những hàng đót , chờ khô có xe chở về Huế. Chuyện bán đót là chuyện của cán bộ, đời tù chỉ mong đến giờ nghe kẽng lãnh phần ăn là xong. Củ sắn, thìa muối sống buổi sáng , phần "canh đại dương" kèm theo sắn hay khoai ...thời hái đót ,năm ngày mới được thuởng thức một chén cơm từ khẩu phần 100 gam gạo; gạo là "thuốc bổ" phụ cho thời khoai sắn thay cơm. Đó là những năm tháng khó quên, những kỷ niệm "rưng rưng " với đót, với Trường Sơn - Huế, với những rừng đót lung lay theo gió.
Ngày đó từng bó đót được đổi miếng ăn cho tù, là kỷ niệm, là dỉ vãng. Tôi nhớ đót như nhớ (hay thuơng) những mãng rừng no nắng trên vùng biên giới, quê huơng.
Ý niệm hận thù, ghét bỏ, đã qua đi như ngọn gió rừng lao xao lướt qua thảm rừng đầy tràn hoa đót . Giờ đây đót vẫn còn ; nhưng là tiền, là gạo, cho bao lớp tuổi thơ VN, đời sống bấp bênh, nghèo đói so với tuổi thơ thành thị.
Qua bao năm, chắc hẳn giờ đây hoa đót vẫn đu đưa, "ru đời" qua đi sau từng cơn gió núi. Đót Trường Sơn vẫn vươn qua bao tàn phá của những bàn tay tham lam mở đất; đót còn nuôi em, nuôi mẹ vùng cao. Xã hội còn nghèo, hay tình nguòi cùng sự công bằng xã hội "còn nghèo"? Trường Sơn vẫn oằn lưng chịu bao nhát chém của lòng tham ; đất Cao nguyên vẫn lở lói cho 'tiền muôn bạc tỷ' của những kẻ ngất ngưởng quyền uy ! Người dân núi vẫn nghèo, tuổi thơ vùng cao vẫn đói ! Bó đót qua thác vượt ghềnh, vẫn chống chọi với cái chết để đổi lấy miếng cơm! những chiếc cầu "công lý" vẫn chưa nối bờ cho đám dân rách rưới xác xơ ?
Thôi, biến cố nào cũng qua, sướng khổ nào cũng hết; xin lắng tâm tư về kỷ niệm , mong sóng lặng gió qua bình yên như nước hồ thu. Trong muôn vàn ký ức của những thế hệ , những lớp người đi trước , bao nguòi Việt Nam dù bắc hay nam, dù người linh VNCH hay bộ đội 'cụ Hồ", chắc hẳn có nhiều người mang nặng dấu ấn Trường Sơn, trong đó có hình ảnh những rừng đót hoa nở trắng phau lung linh dưới ánh nắng rừng. Tôi không ngờ hôm nay những hình ảnh và câu chuyện về đót cũng được nằm trong vùng kỷ niệm .
Hiện nay người dân Huế hay đồng bằng Quảng Trị đang ồ ạt lên rừng kiếm đất , tương lai những rừng đót "lộc trời" chắc cũng không còn
DHL edition
17/6/2016

Ký ức thời gian... ĐÁM CƯỚI NGÀY XƯA



Ký ức thời gian...
ĐÁM CƯỚI NGÀY XƯA
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, đám cưới và ngoài trời
Bây giờ đã là tháng 12…
Đã lâu lắm rồi, nhưng trong tôi vẫn còn nguyên cái nôn nao khó tả mỗi khi nghe trong cơn gió sớm đã có chút se lạnh của mùa đông. Tháng này trời trong trăng sáng, nhưng ngày xưa, đây cũng là tháng của háo hức, của xôn xao, của ngậm ngùi, của luyến tiếc, khi mà những chàng trai, những cô gái trong làng lần lượt nắm tay nhau rời bỏ cuộc chơi...
Không biết tôi có chủ quan không, chứ hình như đám cưới ngày xưa vui hơn bây giờ nhiều. Ở thôn quê, trăm sự nhìn vào hạt lúa, mà hồi đó chủ yếu là làm lúa mùa, tháng 12 mới gặt, nên phải đến tháng này thì khắp nơi mới rộn rịp bước vào mùa cưới.
Hồi ấy không có thiệp, phải mời miệng, mà mời miệng thì tốn thời gian lắm. Gặp người ít nói thì năm điều ba chuyện là xong, nhưng rủi gặp phải chủ nhà hiếu khách, luôn miệng hỏi han điều này điều nọ thì chưa mở được lời đã ngáp ngắn ngáp dài, nói chi đến chuyện sang nhà khác. Vả lại, đi mời đám cưới đâu phải chỉ có mời, mà còn hỏi mượn cái này cái nọ, rồi nhờ anh cho thằng A, con B ngày đó sang giúp tôi một bữa… nên càng phải nấn ná lựa lời.
Cách ngày cưới khoảng mươi hôm, chuyện về cô dâu chú rể đã râm ran khắp làng trên xóm dưới. Khi trên rẫy, lúc dưới đồng, người ta vừa làm vừa hào hển kể cho nhau nghe, chú rể làm gì, ở đâu, cô dâu tính hay nết tốt thế nào, hào hứng lắm! Chẳng như bây giờ, nhiều khi đi đám cưới về, hỏi tân lang tân giai nhân thế nào, chỉ lựa được hai trong bốn chữ: cao, thấp, đẹp, xấu là … hết vốn!
Cách đám cưới mấy ngày, trong xóm đã nhộn nhịp. Con trai tốp lên núi chặt tre, tốp đi xin lá dừa về dựng rạp, tốp chạy khắp xóm dưới mượn bàn mượn ghế; con gái thì lo đi mượn nồi niêu chén bát, dựng mấy bếp lò, cụ bị mọi thứ để chờ giờ nổi lửa.
Đến ngày cưới chủ nhà nhờ một người hoạt bát để giúp việc tiếp tân. Đám cưới vui hay không là nhờ ở anh này... Thức ăn dọn lên, không có nhạc sống nhạc siếc gì nên anh tiếp tân dù họng khô cũng nói, bụng đói cũng cười để mua vui cho khách. Thế nên nhiều khi hết chuyện, không thể nhờ người nói thế, anh ta bèn mời họ… hát! Đang ăn, nhưng khách vẫn vui vẻ bỏ đũa, chép miệng cho sạch rồi đứng lên hát mà thậm chí đến một nốt đàn phụ hoạ cũng không có. Ấy vậy mà vui, mà háo hức lạ kỳ.
Trong mâm cỗ cưới, cô dâu chú rể lăng xăng hòa vào đám tiệc chứ không đi “trình diễn thời trang” kiểu như bây giờ. Đôi vợ chồng mới chưa quen hơi béng tiếng nhưng cũng ráng dẹp cái “mắc cỡ” qua một bên để đến từng bàn, vừa gắp thức ăn bỏ cho người này người nọ, vừa dáo dác lựa chỗ mà ngồi ăn chung với khách. Câu chuyện quanh bàn cưới nổ ra như bắp rang...
Tiệc xong, chủ nhà tiễn khách, bắt tay cám ơn từng người một rồi quay vào hối dọn tiệc hai để mời những người phụ giúp. Đám cưới to một chút thì người lớn buổi trưa, thanh niên buổi chiều, không mời nhiều như bây giờ, nhưng do ngồi chung một dãy bàn nên luôn có cảm giác đông đúc và ấm cúng.
Trong cảnh nghèo khó, đám cưới quê cũng đạm bạc vô cùng, nhưng cái tình thì thấm sâu, khiến người ta cứ ghi nhớ mãi. Nhà có việc, mở lời ra là cả xóm xúm vào phụ giúp, nhiệt tình và đầy trách nhiệm như thể đó là việc nhà mình. Có lẽ cũng nhờ vâỵ mà tình cảm của người dân quê lúc nào cũng chan hoà, nồng ấm.
Bây giờ đã là tháng 12…
...
(Trích theo "Đám Cưới Ngày Xưa" trên http://radiome.vn/)