Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2016

ĐOÀN DU CA LÒNG MẸ

Nhớ Ban mê có phong trào du ca ...
ĐOÀN DU CA LÒNG MẸ
Thú thật với các bạn, tôi chỉ được biết anh NguyễN Quyết Thắng qua những bản nhạc của anh đăng trên báo Độc Lập và Tự Do. Nét nhạc của anh rất trong sáng, tươi mát, đầy tinh thần dân tộc, yêu quê hương.
Sinh vào năm 1949 và làm quen đầu tiên với âm nhạc qua chiếc đàn ghi-ta vào năm 1963. Từ đó chơi nhạc trẻ ngoại quốc cùng lúc với học đánh trống. Ở trường học, anh Thắng đã cùng các bạn thành lập một ban nhạc trẻ, trình diễn những bản nhạc ngoại quốc thịnh hành thời đó hợp với tuổi trẻ hồn nhiên.
Mãi cho đến năm 1965, nhân một buổi sinh hoạt của "Trại Công Tác hè 65", anh Thắng đã tình cờ nghe được một số bản nhạc của Phong Trào Du Ca như : Anh Em Tôi - Đường Việt Nam - Về Với Mẹ Cha .... Những bản nhạc thật mới mẻ, thật lạ lùng, thật hùng mạnh đã lôi cuốn anh, đã cảm hóa và thức tỉnh anh. Anh Thắng đã liền quyết định xin gia nhập Phong Trào Du Ca ( Lúc đó phong trào còn mang tên Đoàn Thanh Ca Tác Động ).
Ít lâu sau anh Thắng đã thành lập đoàn Du Ca của anh để sinh hoạt tại thành phố vùng cao nguyên, nơi anh Thắng đã lưu lại rất nhiều kỷ niệm trong cuộc đời du hát của anh và đã được anh cụ thể hóa qua một số bản nhạc anh viết như : Lần Trở Lại Banmê- Nói Vơï Người Du Ca Ban mê - Ban mê và Ta - Banmê và Mưa - Hoa Trắng Ban mê v...v.
Đoàn Du ca của anh có tên là Đoàn Du Ca Lòng Mẹ gồm 15 Du Ca viên...
...
(Trích trong "Nguyễn Quyết Thắng và Phong Trào Du Ca Việt Nam" của Nguyễn Quang Hải đăng trên http://ducavn.nl/nqt/NQT/)
---
Đúng 2 giờ trưa Chủ Nhật hôm sau, đến hẹn, chúng tôi cùng họp mặt tại căn nhà 19 Hai Bà Trưng Banmethuột, đó là căn nhà của bố mẹ tôi đã dìu đắt chúng tôi suốt chặng đường từ vĩ tuyến 17 đến đây lập nghiệp năm 1957. Ngoài sự hiện diện của bọn tôi đã ước hẹn đêm qua, còn có thêm được một số các bạn cùng trang lứa khác đến tham dự buổi họp mặt đầu tiên này, và hôm nay cũng là ngày đoàn " Thanh Ca Tác Động Lòng Mẹ Banmêthuột " chính thức ra đời, ( vài tháng sau, thông tin từ Ban Chấp Hành Trung Ương đưa về đổi tên thành " Phong Trào Du Ca Việt Nam - Đoàn Du Ca Lòng Mẹ Daklak ").
Ban Chấp Hành đơn vị Banmethuột đã được bầu ra và thành phần đoàn viên gồm có Nữ : Phan Nguyệt Quờn, Lê Thị Đầm. Lý Gia Huấn, Nguyễn Thị Thanh Tài, Nguyễn Thị Vân, Hồ Minh Chiến, Lê Thị Lộc. Phía Nam gồm : Nguyễn Quyết Thắng, Phan Hồ Khánh, Huỳnh Lâm, Nguyễn Văn Hùng, Huỳnh Văn Phước, Nguyễn Văn Tổng, Phan Văn Thanh.
Những năm kế tiếp đoàn có thêm : Nguyễn Tri Bình, Lê Thị Thanh Đào, Nguyễn Thị Thanh, , Nguyễn Đình Cường, Huỳnh Trọng Đạt, Đỗ Phước Long, Nguyễn Đức Tấn, Nguyễn Quang Phú, Đỗ Văn Dư, Lệ Hà, Ngô Aí Lan, Quế Hoa, Hường, Diễm Thu, Lê Nguyên Hòa, Nguyễn Đình Hiếu, Trần Khang Thụy, Ngọc, Hồ Văn Nuôi, Trần Văn Trinh, Vương Ngọc Nha, Hoàng Minh Châu , Nguyễn Giõng, Hoàng Văn Cương, và đoàn viên " hàm thụ " Thu Hằng ...
Giáng Sinh 66 , đánh dấu sinh nhật của đoàn Du Ca Daklak, một nỗi nhớ khắc ghi, là một dấu ấn sâu đậm đến tinh thần văn nghệ phục vụ và tình bằng hữu của chúng tôi...
(Trích trong hồi ký " Du Ca Banmê"của Nguyễn Quyết Thắng)
---
Ban Mê Thuột, hay như chúng tôi thường gọi tắt là Ban Mê. Nơi đó, ngày xưa, suốt trong một thời thanh niên rực rỡ, suốt trong một khoảng trời mây rộng rãi và chất ngất đam mê đó, chúng tôi đã sống, đã yêu thương, đã đắm mình vào sức chảy của ngút ngàn của rừng núi tây nguyên. Có lẽ, nhắc đến Ban Mê mà không nhắc đến Nguyễn Quyết Thắng mà một thiếu sót không thể lấp bằng.
...
Chúng tôi làm quen với nhau dễ dàng như trong truyện Thủy Hữ kể lại những tay hảo hán tự động tìm đến với nhau như có sức hút tự nhiên của những người cùng chung nỗi đam mê. Tôi có hỏi Thắng là bảng tên của ông thêu như thế này thì đọc là Thắng Chiến chứ không phải Chiến Thắng. Thắng cười, giải thích, mình thêu tên Chiến phía tay trái, bởi vì bên tay trái là bên có trái tim. Chiến là cô bạn gái của mình.
...
Cái duyên sơ ngộ đó đã kéo tôi ra chơi với nhóm anh em trong Ðoàn Du Ca Lòng Mẹ của Thắng , Nhiều người lắm, tôi chỉ còn nhớ một vài tên như Nguyễn Ðức Tấn, Huỳnh Trọng Ðạt, Nguyễn Ðình Cường, Nguyễn Ðình Hiếu,... Rồi chương trình Nhạc Quê Hương trên làn sóng Ðài Phát Thanh Ban Mê Thuột, cuộc chơi dài hơn khi tôi tham gia Phong Trào Du Ca với Thắng để về Saigon tham dự Ðại Hội Du Ca toàn Quốc ở số 4 Duy Tân ( Ðại hội thứ mấy tôi không nhớ ) Cái tình Du Ca đó đã cho tôi những tình bạn kéo dài cho đến bây giờ đối với các Huynh Trưởng như Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Ðức Quang, Phạm Tuấn Ngọc ,Ðỗ Ngọc Yến, Hòang Ngọc Tuệ, hay với những bạn đồng trang lứa như Phan Ni Tấn, Ðoàn Văn Khánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Võ Thị Xuân Ðào, Võ Thị Bích Ngọc....
(Trích đoạn "Cái Thuở Ban Đầu Với Nguyễn Quyết Thắng" của Nguyễn Ninh Nữu đăng trên http://ducavn.nl/nqt/NQT)

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

MỘT BUỔI CẮM TRẠI

Nhớ về một huynh trưởng Hướng Đạo Việt Nam, Trưởng Nhím Cần Cù Trần Đắc Hiền, người đã vẽ huy hiệu Đạo Daklak ...
MỘT BUỔI CẮM TRẠI
Dưới ánh trăng suông, trong tư thế bò trườn của loài rắn đêm tôi nhanh nhẹn và âm thầm bò về hướng lều của các Huynh trưởng.
Hôm ấy là buổi cắm trại cấp đoàn của kha đoàn Hướng đạo Cư Dleyă, đạo Đăklăk, Đoàn chúng tôi hạ trại qua đêm trong khuôn viên của một trường tiểu học thuộc quận Hoà Bình cách khu Đồi thông và rừng Lao Xao không xa lắm. Sau đêm sinh hoạt lửa trại Huynh trưởng cũng như tất cả các anh em Hướng đạo khác đang đắm chìm trong giấc ngủ miệt mài, ngoại trừ chúng tôi vẫn chưa ngủ vì…còn nhiều việc quan trọng phải làm. Ngoài trời những cơn gió rít đang thổi tới từ cánh rừng Trắc Bá Diệp gần đó làm cho những đóm lửa đã tàn trong đống lửa trại bổng như bùng lên để cùng nhảy múa một vũ điệu lửa rừng với những cơn gió chướng. Những đóm lửa lập loè bập bùng dưới ánh trăng khi tỏ khi mờ ấy cùng với tiếng gió rít như tiếng thở qua kẽ răng của những con ma lai rút ruột đang lang thang đi kiếm ăn trong đêm tối mà tôi vẫn thường nghe những người bạn người Mường trong khu vực này kể lại đã làm cho khung cảnh nơi đây tăng phần ghê rợn bởi sự ma quái. Thế mà trong hoàn cảnh ấy dù không muốn tôi cũng phải mò ra khỏi căn lều ấm cúng và an toàn của mình để đi làm một nhiệm vụ mà đội trưởng của tôi là Cao Chu Huân đã tin tưởng giao phó.
Bò đến cửa lều của các huynh trưởng, ngóc đầu nghe ngóng, không thấy động tỉnh gì, tôi nhỏm dậy, móc trong túi áo ra một gói giấy nhỏ, bên trong gói giấy là một ít bột màu đỏ mà chúng tôi đã ra lấy từ trái smoke (lựu đạn khói màu mà quân đội thường dùng để xác định địa điểm, khi cháy không có lửa, chỉ có khói) tôi bật diêm châm lửa đốt, chờ cho cái chất bột đỏ ấy ngún khói, tôi vén cửa lều, vội vã đẩy gói giấy ấy vào và nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Từ bên trong lều của mình qua cửa lều hé mở, chúng tôi nín thở theo dõi. Trò chơi này do Huân bày ra và đặt tên là " hun muỗi ". Trong " Những Thằng Tiểu Quỉ " tôi đã giới thiệu về Huân như là một tay xuất sắc, một chiến lược gia đầy kinh nghiệm ít nhất là về lãnh vực…phá làng, hắn đã đọc rất nhiều và bị ảnh hưởng bởi những câu chuyện trinh thám, kinh dị, phiêu lưu thám hiểm ly kỳ của các tác giả Hoàng Hải Thuỷ, Đặng Trần Huân, Sherlock Holmes, Jack London, Kim Dung...v.v..nên trong đầu hắn lúc nào cũng chật ních những trò chơi mới mẻ đầy sáng tạo và dĩ nhiên cũng đầy những…hậu quả không lường.
Sau một lúc theo dõi vẫn không thấy động tĩnh gì, Huân giục tôi thực hiện lại lần nữa. Lần này cũng thế sau những phút chờ đợi lều trại trưởng vẫn im ắng như chưa từng có gì sẩy ra và điều đó đã làm tôi đâm lo, quay qua Huân tôi nói: " Hay là mấy Trưởng hít nhiều khói quá ngộp thở bất tỉnh rồi?". Dường như hắn cũng đang lo lắng nhưng vẫn nói cứng: " Làm gì có chuyện đó, để tao đi kiểm tra.". Lát sau Huân trở lại, bò vào lều vừa cười toe vừa nói:" Không sao, không sao các anh ấy vẫn còn thở ". Hắn cho tôi biết vì mấy Trưởng dùng mền trùm kín đầu nên khói không tác dụng. Trong lều chúng tôi lúc đó có bốn đứa, sau khi nhìn lướt qua hai thằng còn lại Huân đã quyết định tự mình đi giải quyết công việc, cầm gói bột trong tay, hắn im lặng mon men trong ánh lửa chập chờn đi về hướng lều Trưởng.
Hắn lúc nào cũng quyết định nhanh chóng và đúng, hai cái thằng còn lại là hai hướng đạo tập tễnh, tân sinh mới ra lò, nhát như thỏ đế, trong cái khung cảnh âm u rờn rợn này, dù có cho mấy cục đường phèn cũng chưa chắc dám mò ra khỏi cái lều này chứ đừng nói chi tới chuyện " hun muỗi " lều trại Trưởng mà những người ngủ trong đó toàn là những nhân vật có cỡ .
Khoảng 5 phút sau Huân trở lại, vội vã chui vào lều rồi nói: " Lần này chắc ăn lắm, đốt xong tao mở mền ra rồi nhét gói bột khói ấy vào trong mền luôn."Chúng tôi hồi hộp chờ đợi, không biết là bao nhiêu phút đã trôi qua thế mà lều của các huynh trưởng vẫn không có động tĩnh gì, có lẽ nóng ruột thằng Huân lại mò ra khỏi lều để đi thám thính, như một con mèo đang rình chuột hắn thận trọng bò từng đoạn mon men đến gần, khi mà khoảng cách giữa hắn với mục tiêu không còn xa lắm, bỗng nhiên tôi nghe có nhiều tiếng động: ạch ạch, ụi ụi…và từ trong lều của các Trưởng những cái đầu, những cái tay trồi lên thụt xuống chổn nhổn dưới tấm tăng bạt rồi tiếng huynh trưởng Trần Đắc Hiền hô hoán trong cơn hốt hoảng: "Cháy…cháy…cháy…" lần lượt sau anh Hiền là trưởng Nguyễn Đức Thông (Thầy Thông dạy Triết) rồi chánh tuần trưởng Nguyễn Hiếu, phó chánh tuần trưởng Phạm Sĩ Nghĩa tất cả họ trong cơn mê sảng cũng đang hốt hoảng, lúng túng cố vượt thoát ra khỏi căn lều đang phủ đầy một màu khói đỏ.Thằng Huân như bị dội ngược trở lại và nhanh như cắt phóng thẳng vào một lớp học để ẩn mình. Trong lều chúng tôi cũng vội vàng nằm xuống mền phủ kín đầu như đang say ngủ. Sự hỗn loạn trước mắt khi nãy đã vượt qúa những gì mà tôi có thể tưởng tượng trước khi tham gia cuộc chơi này và thật sự đang làm tôi lo lắng.
Bên ngoài sau 1 phút yên ắng, các Trưởng dường như đã lấy lại bình tĩnh để có thể đoán biết được việc gì sẩy ra. Trong đêm tối tôi nghe tiếng của anh Hiền dõng dạc: " Cao Chu Huân đâu ? " là giáo sư dạy chúng tôi bộ môn Văn đồng thời cũng là giáo sư hướng dẫn lớp 9/1 ( nhất Quỉ nhì Ma thứ ba Chín một ) và cũng là huynh trưởng, trưởng kha đoàn Cư Dleyă của chúng tôi nên anh biết rõ tính tình từng đứa một do đó cũng không ngạc nhiên khi chỉ trong tích tắc anh đã gọi đích danh thủ phạm, còn ai trồng khoai đất này. Tôi càng " teo buri " hơn khi có ánh đèn pin và tiếng chân bước đến gần lều, tiếng thở hổn hển, đứt quảng giống như những người đang lên cơn suyễn của hai thằng lính mới vì sợ, làm tôi thêm chột dạ còn bụng thì rằng : " Phen này chết chắc." Cửa lều được mở, ánh đèn pin soi lướt vào mặt từng đứa, tiếng nói của anh đã bớt giận dữ: " Huân đâu ?" tôi giả vờ dụi mắt ngơ ngác, chân tay quờ quạng như người vừa tỉnh ngủ(có ngủ đâu mà tỉnh). " Dạ em …em…không biết.". Sau khi chắc chắn là không có Huân trong lều anh rọi đèn pin và đi về hướng các lớp học. Không bao lâu sau tôi nghe tiếng thằng Huân oang oang thanh minh thanh nga:" Oan cho em lắm, em có làm gì đâu, em đang ngủ mà…", tiếng anh Hiền: " Ngủ gì mà ngủ ngồi. ", nhìn qua cửa lều tôi thấy hắn đi trước về hướng cột cờ còn anh Hiền tay cầm đèn pin đi sau như đang áp tải tù binh. Họ ngồi lại ở đó khá lâu, tôi đoán là anh đang hỏi cung, hi vọng nó không bị tra tấn quá đau để phải khai ra đồng bọn, thở dài tôi nằm xuống trong tư thế đợi chờ.
Khi hai thằng lính mới, vừa bước vào cơn mộng mị bằng những tràng ngáy thoáng nghe như tiếng cưa máy của những người thợ rừng cũng chính là lúc Huân lểu thuể trở về. Vụt chồm dậy tôi hỏi: " Ê! sao rồi…sao rồi ??" giọng buồn buồn Huân trả lời:" Sáng sớm mai tao phải đi, anh đuổi tao về. " với dáng vẻ của kẽ thất trận hắn co ro nằm xuống bên cạnh tôi và bắt đầu rên rỉ về nổi oan khiêng, về sự anh dũng thà chết chứ không kể ra đồng bọn của mình, về sự bất công của loài người, chơi thì chơi chung mà hình phạt thì giờ đây mình hắn gánh chịu….Quay qua hắn tôi vỗ về: " Thôi được rồi, tắt cái đài Sàigòn đi, ngày mai tao sẽ gặp anh Hiền cùng nhận tội với mầy, xin tha thứ, nếu có phải về thì hai đứa cùng về." Như chưa vơi nỗi oan ức hắn vẫn tiếp tục phát thanh, tiếng ca cẩm của hắn hoà lẫn cùng với tiếng cưa máy đều đều của hai thằng lính mới tạo thành giai điệu của một bản giao hưởng trữ tình và cùng trong giai điệu ấy bốn thằng bán trời không mời thiên lôi chúng tôi liệm dần … liệm dần…để đi vào giấc ngủ đầy hồn nhiên giữa đất trời.
Mở mắt ra tôi đã thấy thằng Huân đang khăn gói quả mướp chuẩn bị trình diện anh Hiền để " Qui hồi cố quận " giữ lời hứa tôi theo hắn cùng đi. Khi chúng tôi đến anh cũng chỉ vừa mới thức dậy sau một giấc ngủ có lẽ đầy những muộn phiền, trên nét mặt anh một khuôn mặt về sáng hơi mệt mỏi, xen kẽ với những vết khói đen, dấu tích còn để lại của buổi lửa trại là những vệt màu đỏ có lẽ từ những trái khói đêm qua. Sau khi đeo lên chiếc kính cận dầy cộm màu đen cố hữu anh chỉ cột cờ, chúng tôi đi về phía ấy. Hai đứa tôi ra sức dùng nước miếng bôi trơn cái lưỡi của mình thay phiên nhau năn nỉ, ỉ ôi và không ngần ngại đưa ra những lời hứa danh dự của Hướng đạo từ nay xin chừa, thậm chí chúng tôi chịu vuốt mặt, tay chỉ lên trời thề độc nếu anh yêu cầu. Hình như không thể chịu đựng nỗi cái trò hề đầy tính trẻ con mà hai thằng tôi đang phối hợp từ từng động tác cho đến mỗi nét mặt một cách rất ăn ý đã làm anh phải bật cười để chuyển từ bộ mặt ngầu sang khuôn mặt thân thiện hàng ngày của anh. Thế là thoát nạn, trước khi trở lại đội để chuẩn bị cho buổi lễ chào quốc kỳ buổi sáng, trước mặt anh chúng tôi hứng chí ca bài con cá sống vì nước: " Từ nay 2 đứa em xin cam kết từ bỏ mọi việc xấu, quyết tâm làm lại cuộc đời." tuy biết rằng lời hứa của chúng tôi chẳng khác gì những giọt nước mưa đang rơi trên những chiếc lá môn nhưng trước khi quay về với đội tôi đã kịp nhìn thấy trên môi anh một nụ cười, một nụ cười rất độ lượng của một người thầy, một người anh cả rất yêu thương, sẵn sàng tha thứ và nâng đỡ cho những đứa em thơ dại của mình. Vừa quay lưng đi, chứng nào tật nấy, sau khi cẩn thận nhìn kỹ chung quanh thằng Huân tủm tỉm cười và hỏi nhỏ: " Mầy có nhìn thấy trên mặt anh Đắc Hiền có mấy cái sọc màu đỏ không ? " tôi thật thà gật đầu, nó tiếp: " Nếu hồi tối chơi thêm chút màu vàng thì lát nữa khi làm lễ chào cờ mình khỏi cần kéo cờ….. ặc…ặc. "tôi nhìn nó, cười đồng tình tuy có chút ngao ngán … ặc …ặc.!!!
Hơn tiếng đồng hồ sau chúng tôi chuyển trại đến địa điểm mới đó là một con suối ở Hoà Bình, chúng tôi dựng lều, làm bếp, nấu nướng, ăn uống và chuẩn bị cho trò chơi lớn ở đây " Thuỷ Chiến ".
Con suối cũng tương đối rộng, chảy ngang qua 1 cái cầu trên con đường Hoà Bình – Kim Châu nước róc rách ngang đầu gối, chỗ nào có hục sâu thì nước tới lưng quần, chúng tôi chia làm 2 phe dùng sình ném nhau, trét vào mặt, vào người nhau (tuyệt đối không được dùng đá để ném vì ai cũng biết đá mà ném trúng đầu là hơi bị nhột đó).Tôi còn nhớ trong một mũi tấn công, bên tôi có 3 thằng, phía bên địch chỉ có một mình Phạm văn Lộc trơ trụi với chiếc quần đùi ướt, tuột gần tới bùloon, có lẽ do hăng say chiến đấu nên nó đã rời xa đội hình một mình đi quá sâu vào lòng địch, biết bị lọt vào vòng nguy hiểm Lộc tháo chạy, với những nắm sình to tướng trên tay chúng tôi đuổi tới, dưới nước chạy không được nhanh sợ khó thoát, Lộc nhanh nhẹn nhảy thoắt lên bờ, chúng tôi nạp theo đạn sình bay tới tấp, chạy được vài chục bước thì trước mặt là một đàn bò đang thanh bình gặm cỏ bên bờ suối, chỉ riêng có con bò đực to tướng với đôi sừng cong nhọn và cái bản mặt ngầu của nó không có vẻ gì thanh bình cho lắm, như chiếc xe máy ủi nó húc tới. Phía trước là con bò đực dữ dằn đang tấn công để lấy le với mấy con bò cái, sau lưng là mấy thằng tôi cũng dữ dằn không kém con bò ấy bao nhiêu, hết đường chọn lựa Lộc nhảy qua cái hàng rào kẽm gai bên trái để cố tìm con đường thoát và hắn đã dính ở đó, những mắt kẽm gai bén nhọn đã cắt trên đùi Lộc những vết thương tương đối sâu, máu ra lênh láng.
Đứng trên bờ quan sát toàn cảnh cuộc chơi, anh Đắc Hiền đã mau chóng thấy được tai nạn đó, vội vã đến hiện trường sau khi băng bó sơ cứu vết thương anh đã dùng chiếc xe Honda đam của mình chở Lộc về bệnh viện Tỉnh cách đó trên 10km để chăm sóc vết thương cũng như chích ngừa "uốn ván". Cuối ngày dưới sự chỉ đạo của Huynh trưởng phó đoàn Nguyễn Đức Thông chúng tôi hạ lều thu dọn mọi thứ để trở về chuẩn bị cho những ngày học của tuần tới.
...
(Trích trong bài viết " TƯỞNG NHỚ THẦY...." của Trần Châu đăng trênhttp://www.trunghocbmt68-75.com)

KÝ ỨC KHOAI MÀI

Nhớ về núi rừng ngày ấy...
KÝ ỨC KHOAI MÀI
Tôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.
Chuyện hấp dẫn y như trong trong truyện phiêu lưu với những cánh rừng bất tận đủ các loại cây, với cỏ hoa muông thú đủ sắc màu, cả những hiểm nguy rình rập. Mấy chị em gái phục lăn khi nghe một thư sinh vừa tốt nghiệp lớp 12 ốm o trói gà không chặt kể việc đốn cây dựng nhà, phát rẫy khai nương, chuyện sinh hoạt văn nghệ bên đống lửa đốt giữa rừng già và cả chuyện vất vả nhọc nhằn ốm đau bệnh tật. Thích nhất là cảnh cả tiểu đội hì hụi đào khoai mài, đào mãi đào mãi và cuối cùng “rinh” lên một củ bự chác dài hơn cả mét để lại một hố sâu quá đầu hay cảnh mọi người nhốn nháo vì tiếng cọp gầm vọng lại quên cả mớ sắn vùi trong lửa cháy khét. Cứ như mình là người trong cuộc, các em tôi không ngớt xuýt xoa.
Tôi cũng nhớ như in cảnh thành phố Huế nô nức, bịn rịn tiễn những gia đình vào Đắc Lắc xây dựng vùng kinh tế mới cuối xuân 1977...
(Trích trong "Có một Phú Xuân..." của Tôn Nữ Ngọc Hoa đăng trênhttp://tapchisonghuong.com.vn/)
...
Ngày trước đói, cả bản, cả mường, không ai là không vào rừng để đào khoai mài ăn trừ bữa. Những hố khoai mài ở trong rừng có khi sâu đến lút đầu người… đã tạo nên ký ức đói nghèo của một thời, không bao giờ có thể quên được. Ký ức sống nhờ rừng, sống dựa vào rừng là chính, gắn bó với rừng mật thiết hệt như cá với nước vậy!
...
Người đi đào khoai mài bây giờ phải gói cơm đi rừng rất xa, tìm kiếm và đào suốt cả ngày, may lắm cũng chỉ được chừng ba, bốn cân khoai là hết sức rồi. Ba, bốn cân khoai mài đem ra chợ bán, không cần tiếp thị mời mọc, người ta cũng tranh nhau mua.
...
...rằng chỉ vài năm nữa thôi là khoai mài trong rừng sẽ hết sạch, nó không còn gốc để lên mầm nữa. Nhưng con người thì cứ muốn ăn khoai mài mãi mãi, vì nó ngon, bổ…
(Trích theo "Ký ức khoai mài" của Thái Tâm đăng trên báo Nghệ An)
...
Cùng với nỗi nhọc nhằn, núi cũng mang đến cho chúng tôi nhiều ký ức ngọt ngào. Từ lúc sinh ra, trong tâm trí chúng tôi núi đồi luôn là mảnh vườn chung mênh mông hoa trái. Chúng tôi đã lớn lên với rất ít bánh kẹo nhưng đầy thức quà của núi đồi với khoai mài chống đói, với sim, mua, muồng nhuộm tím tuổi thơ và mít, dứa cùng những quả quýt thơm lừng hương núi... Để đến bây giờ khi đã đi đến nhiều chân trời, thưởng thức bao của ngon, thức lạ vẫn không bao giờ quên đặc ân của núi đồi.
Núi rừng cũng là nơi mưu sinh của rất nhiều người làng tôi. Trong đám trai tráng của làng dạo ấy, anh trai tôi cũng đã ngược ngàn chặt nứa rồi kết thành bè, trầm mình giữa mưa nắng theo dòng Ngàn Phố về xuôi. Những cây nứa bán chẳng được mấy mà thấm trải bao nỗi nhọc nhằn của những đêm luồn núi bị vắt cắn, của những ngày vượt thác, vượt ghềnh về xuôi. Mùa nào thức nấy, núi rừng luôn là nơi có thể mưu sinh. Mùa măng lấy măng, mùa nứa chặt nứa, Tết thì đi lấy lá dong, ống giang… Xa lắm rồi những ngày cực khổ ấy nhưng bây giờ mỗi lần về làng nghe chuyện người này, người kia sắp luồn rừng, luồn núi mưu sinh chúng tôi lại rưng rưng thương nhớ. Nhớ về quãng đời không có tuổi thơ để thương hơn những kiếp đời lam lũ…
(Trích đoạn "Chung chiêng nhớ núi" của Anh Hoài đăng trênhttp://baohatinh.vn/van-hoc)

Nhớ mùi hoa bưởi... HƯƠNG TÓC MẸ

Nhớ mùi hoa bưởi...
HƯƠNG TÓC MẸ
Đi hết cả cuộc đời này chẳng có mùi thơm nào có thể thay thế mùi hoa bưởi vương trên tóc mẹ tôi, mùi yêu thương, mùi khổ cực, mùi tảo tần và cả mùi hy sinh tất cả chúng hòa quyện vào một nuôi tôi trưởng thành theo năm tháng.
...
Mẹ tôi có một sở thích là nhổ tóc sâu và dần cái sở thích đó của mẹ cũng trở thành thói quen của tôi khi rảnh rỗi. Tôi thích nghịch những lọn tóc rối của mẹ, tôi thích chải tóc cho mẹ, thích mân mê những sợi tóc ngập mùi hoa bưởi thơm lừng trên mái tóc mẹ. Tôi thích mùi tóc đấy, mùi tóc tràn đầy yêu thương.
Khi tôi học năm nhất đại học, cuộc sống của một sinh viên xa nhà xa gia đình xa bố mẹ xa mùi tóc ấy khiến tôi bơ vơ cô đơn giữa thành phố to lớn này, nhiều đêm tôi đã khóc ướt cả gối chỉ vì nhớ cái mùi tóc hương bưởi của mẹ, nhớ những sợi tóc sâu, nhớ những chiều hè tôi cùng mẹ gội đầu. Mùi tóc mẹ đã lớn lên cùng tôi, đi theo tôi suốt cả tuổi thơ mà chẳng bao giờ tôi quên nổi dù chỉ một lần.
Rồi một lần giữa cái thành phố chật hẹp này, vô tình hay hữu ý đã cho tôi nhìn thấy hình ảnh mẹ tôi từ một người phụ nữ không phải là mẹ đang ngồi gội đầu bên chậu hoa bưởi thơm ngát. Hình ảnh đó thật quen thuộc với tôi, hình ảnh mẹ tôi lại hiện về trong trí nhớ tôi, bà đang gội đầu bên chậu nước bưởi vừa đun thơm nức, bà đang gỡ mấy sợi tóc dính trên chiếc lược ngà cũ rồi thả xuống đất lấy chân xoa xoa vo tròn dắt lên tấm phên lợp bằng lá cọ.
Tôi nhớ mẹ tôi nhớ những lần mẹ chải tóc, tóc mẹ dài, những sóng tóc đen óng được mẹ đưa đều tay theo từng nhịp chải trông thật điệu nghệ làm sao. Mỗi lần mẹ chải tóc là mỗi lần tôi được hà hít cái hương thơm ngọt ngọt dịu dịu suốt bao năm qua. Mẹ chẳng một lần dùng dầu gội như tôi nhưng tóc mẹ vẫn đen vẫn mượt...
...
Tôi rất ghét nhìn thấy những sợi tóc bạc trên đầu mẹ vì tôi hiểu rằng những sợi tóc ấy đang báo hiệu cho tôi thấy mẹ tôi đang già đi, tôi và cả bạn nữa chẳng ai muốn nhìn mẹ già đi cả bởi mẹ là duy nhất là mãi mãi không có bất kỳ ai có thể thay thế được mẹ.
Mẹ tôi bị bệnh, những lúc trái gió trở trời tóc mẹ rụng nhiều lắm, mỗi lần nhìn mẹ chải tóc mà lòng tôi như thắt lại, mùi hương bưởi vẫn đó, nhưng sao tôi sợ thế, tôi sợ một ngày không còn nhìn thấy hình dáng mẹ ngồi chải tóc bên bậc thềm, không còn nhìn thấy mẹ vừa gội đầu vừa chải tóc và không còn được ngửi mùi hương bưởi vương trên tóc mẹ nữa, chỉ nghĩ thôi tôi đã chực khóc rồi.
...
(Trích trong "Hương Tóc Mẹ" của Zinka - Nguyễn Thị Yến đăng trênhttp://gxdaminh.net/huong-toc-me/)

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

Ban mê xưa ... THÁC NHÀ ĐÈN

Ban mê xưa ...
THÁC NHÀ ĐÈN
Cảm ơn con nắng, ngọn gió, cái lạnh của nơi chốn xưa không tàn phai.
...
Thác Nhà Đèn - nơi hội ngộ của lũ học trò trong những giờ vắng mặt ở sân trường, bao nhiêu năm trôi qua vẫn thủy chung chờ đợi.. Giòng nước cứ đổ tràn xuống trắng xóa, ngày tháng bào mòn nhẵn thín những tảng đá, nhưng chẳng thể nào bào mòn đi ký ức hoài niệm. Dường như có hình ảnh các cô cậu học trò níu tay nhau đi băng ngang dòng nước chảy, để có lẽ dẫu cho đến cuối đời người rồi mà tưởng mình hãy còn son trẻ như ngày xưa ấy.
Tạ ân con thác thủy chung năm nào đã kiên lòng chờ đợi tuổi tóc phai sương tìm về lại nguồn cội kỷ niệm.
Phạm Kim Hương
(TH BMT nk 67-74)
...
Ngày hôm đó giờ Sử của Thầy Hiếu, đứng xếp hàng trước cửa lớp mà mải mê nói chuyện, Thầy cho nam sinh vào lớp hết còn đám nữ vẫn chúi đầu vào xem hình. Thế là Thầy Liễn xuống, mời cả nhóm nữ ra cột cờ đứng phơi nắng và tặng cho mỗi đứa một cái cấm túc. Sáng chủ nhật (có hẹn hò trước ) lên trường làm vệ sinh trường xong là kéo nhau đi Thác Nhà Đèn. Tụi mình ra khỏi trường bằng cổng sau trổ ra đường Hùng Vương, đi qua Ký túc xá, qua Bệnh viện Quân đội một quãng là có con đường nhỏ đi lên đồi . Chỉ là đường mòn thôi nhưng dễ đi, hai bên đầy cỏ dại và lau sậy, không có nhà cửa gì cả. Dọc đường có một ngôi mộ đắp đẩt của ai đó nằm sè sè bên đường, rồi đến một cái miếu hoang lạnh, nhìn vào mình thấy nhện giăng, bát hương lạnh lẽo, chắc người ta bỏ quên đã lâu lắm không ai nhang khói. Cảnh thì hoang vắng đến rợn người nhưng có đông bạn bè, lại có dịp đi chơi nên đứa nào cũng vui lắm. Mình vừa đi vừa ngắm những đốm nắng lung linh xuyên qua hàng cây cao, nhảy nhót trên tà áo dài của các bạn đi trước.Đó là những khoảnh khắc đẹp nhất trong hồi tưởng. Sao mình lại nhớ những đốm nắng của 40 năm cũ nhỉ, có lẽ từ bấy lâu nó vẫn sáng mãi trong lòng mình…
Gọi là Thác nhưng đó chỉ là một con đập tràn được xây bằng đá và bê tông, phía trên cao là một hồ chứa nước không biết có sâu không nhưng cũng rất rộng và xanh thăm thẳm, phía dưới thấp chừng 6,7 mét là một dòng suối lởm chởm đá. Mặt đập hẹp lắm, chỉ đủ cho một người đi, tụi mình xếp hàng một băng qua đập. Bờ bên kia khá đẹp là một đồi cà phê rộng mênh mông. Cả nhóm tìm một khoảng đất bằng bày đồ ăn , hát và trò chuyện, chơi đùa.Vậy mà mê mải đến gần chiều, đến khi chuẩn bị ra về, tụi mình mới hốt hoảng thấy nước đã dâng lên đầy hồ, tràn qua đập, đổ xuống dòng suối phía dưới tung bọt trắng xóa.
Buổi sáng đi thì khô ráo bây giờ mình không còn thấy mặt đập đâu nữa nên hơi run. Áo dài vắt lên, quần xắn cao, cứ chân đứa trước bước đâu thì đứa sau bước ngay vào đó, lò dò nắm tay nhau băng qua đập để quay về. Nghĩ dại,lúc đó mà có đứa nào trợt té thì chắc cả đám kéo nhau chầu Hà Bá hết, bây giờ có đứa nào mà trở lại. Nhưng tuổi trẻ là vậy, có một chút phiêu lưu và hồn nhiên vô tư, đến khi lớn lên rồi người ta đánh mất mãi...
...
Có lẽ vào mùa mưa thì sẽ nhiều nước hơn càng làm bờ mặt đập trơn trợt nên người ta phải cắm biển báo nguy hiểm. Đứng bên này nhìn qua bên kia bờ vẫn là một đồi cà phê mênh mông, màu xanh ngát kéo dài ngút mắt. Một người phụ nữ dân tộc vai đeo gùi đi ngang nhìn tụi mình cười thân thiện , rồi cô nhanh nhẹn băng qua đập, mình dõi mắt nhìn theo... Mơ hồ như cũng có một đoàn nữ sinh, áo dài xanh đang đi qua, đứa trước níu tay đứa sau , tiếng cười ròn rã. Trong đám xuân xanh ấy có người đã ra đi mãi mãi, có người đã ở rất xa, và quên luôn những kỷ niệm nhỏ bé. Có người hôm nay trở lại, đi tìm những đốm nắng cũ…Những đốm nắng của ngày xưa vẫn sáng lấp lánh trong tim, dẫu đã trôi qua một quãng đời.
(Trích trong "THÁC NHÀ ĐÈN, NGÀY TRỞ LẠI" của Y.B.T đăng trên
http://www.trunghocbmt68-75.com/)

Ban mê ngày xưa...bây giờ... TRƯỜNG VĂN HÓA QUÂN ĐỘI LAM SƠN

Ban mê ngày xưa...bây giờ...
TRƯỜNG VĂN HÓA QUÂN ĐỘI LAM SƠN
Trước khi nói về lịch sử của trường , tôi xin mạn phép nói đôi điều về sự thành lập khu gia binh Lam Sơn . Vì đây chính là nguyên nhân của sự thành lập trường Văn Hoá Quân Đội Lam Sơn . Vào năm 1956, khu gia binh Lam Sơn tại 4 ô bàn cờ tọa lạc tại ngã ba đường Cường Để (nay là Nguyễn văn Trỗi) & Hai Bà Trưng kéo dài đến ngã ba Y Jut & Cường Để , nối tiếp tới ngã ba Hàm Nghi (nay là Trần Phú) & Yjut , nối tiếp tới ngã ba Hàm Nghi & Hai Bà Trưng được thành lập.
Ban đầu khu gia binh này gồm hơn hai trăm gia đình binh sĩ, thời gian này chưa có trường học . Vào năm 1957 để đáp ứng nhu cầu học tập tại khu này nên trường đã được thành lập. Thời gian đầu chỉ có một phòng học bằng gỗ diện tích khoảng 40m vuông . Do cô giáo Quý (nay ta phải gọi là cụ giáo Quý) học sinh đa phần là thiếu nhi 5 tuổi phòng học có tên là lớp Ấu Trĩ . Và cứ như thế mỗi năm thêm một lớp cho đến năm 1961 thì trường đã có mười một phòng học từ lớp năm (tức lớp 1 bây giờ) cho tới lớp nhất (bây giờ là lớp năm) mỗi lớp có hai phòng . Trong thời gian này trường chỉ phục vụ các học sinh tiểu học.
Cho tới năm 1970 được tăng thêm hai lớp đệ thất (bây giờ là lớp 6), với tên trường là Lam Sơn II để phân biệt với trường tiểu học Lam Sơn. Từ đó trường Văn Hoá Quân Đội Lam Sơn II ra đời, cứ mỗi năm lại thêm hai phòng để đáp ứng nhu cầu học tập , cho tới năm 1974 thì trường có tám lớp với bốn phòng học chia đều cho mỗi cấp lớp mỗi cấp lớp hai phòng . Đầu năm 1973 sau khi hiệp định ngừng bắn được ký kết thì trường đổi tên là Phạm Phú Quốc. Sau 1975 trường được đổi tên là Võ thị Sáu . Sau này phòng giáo dục tỉnh cấp cho các giáo viên làm nơi cư ngụ , từ đó trường mang tên là Khu Giáo Vụ .
Hiện nay trường đổi tên thành Trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm- 249 đường Lý thường Kiệt - Phường Thắng Lợi, TP. BMT.
Lê Văn Mỹ sưu tầm


Tái hiện nghi thức lễ trưởng thành của người Ê Đê...

Tái hiện nghi thức lễ trưởng thành của người Ê Đê...
LỄ MPÚ TÔH-KÔNG
Lễ trưởng thành, tiếng Ê-đê gọi là Mpú Tohkông. Trong vòng đời của người Ê-đê, từ cậu bé trở thành chàng trai, thành người đàn ông biết gánh vác mọi công việc của buôn làng, nhất định phải trải qua nghi thức trọng đại đó là Lễ khôn lớn hay lễ trưởng thành. Đây là nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành của người con trai, chính thức được cộng đồng thừa nhận...
Theo truyền thống, việc cúng lễ này được tổ chức năm lần và do cha mẹ đẻ sắm sửa mâm cỗ, làm lễ. Nếu cha mẹ không có điều kiện thì có thể anh chị em cúng thay… Trong đó, lần cúng cuối cùng là quan trọng vì đó là mốc đánh dấu sự trưởng thành của người được làm lễ.
...
Mở đầu là nghi thức rửa mặt của chàng trai ngoài bến nước cùng với người bạn đời của mình. Chàng trai rửa mặt, cởi áo, cởi khăn và gội đầu. Sau đó giúp vợ rửa chân tay và mang bầu nước về. Khi trở về, chàng trai sẽ dùng sà gạc mang theo chặt 2 cây chuối được trồng bên cầu thang rồi bước lên sàn nhà. Điều này tượng trưng cho sức mạnh của chàng trai trước những khó khăn và các thế lực xấu xa.
Chàng trai sẽ được tổ chức cúng 4 lần trong nhà dài tại gian khách. Phía trước chiếc ghế K’pan là cây nêu có cột 7 ché rượu cần, thầy cúng ngồi vào trước ché rượu cần đầu tiên, mặt hướng về hướng mặt trời mọc để làm lễ. Dàn cồng chiêng và trống nổi lên dồn dập, báo hiệu buổi lễ bắt đầu.
...
Thầy cúng khấn mời Yàng về chứng kiến và đeo chiếc vòng vào tay chàng trai. Mọi người trong gia đình sẽ lần lượt đeo vòng tay cầu sức khỏe và may mắn cho chàng trai. Cuối cùng, thầy cúng mời chàng trai uống rượu cần và lần lượt các thành viên trong gia đình uống rượu cần, ăn đồ lễ.
(Trích theo "Cùng người Ê-đê tiến hành lễ trưởng thành tại Ngôi nhà chung" của Thu Loan đăng trên http://vinaculto.vn/)