Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Chuyện tình của công chúa Ê-đê và quốc vương Champa...

Chuyện tình của công chúa Ê-đê và quốc vương Champa...
NÀNG H'DRAH JAN KPĂ

...
Nhà vua Po Romé đã lặn lội đi khắp các xứ sở để tìm thuốc về chữa bệnh cho hoàng hậu nhưng tìm kiếm mãi cũng vô vọng. Một hôm, vua Po Romé đến xứ sở của người Ê đê, ông tình cờ gặp cô gái Ê đê xinh đẹp H Drah Jan Kpă và đã say đắm ngay cái nhìn đầu tiên.
Công chúa Ê đê H Drah Jan Kpă là con gái cưng của một vị tù trưởng người Ê đê... Trong tiếng Ê đê, H Drah Jan Kpă có nghĩa là công chúa Hạt mưa, vì thế vị công chúa Ê đê này còn được người Ê đê xưa đến nay gọi cung kính và yêu quý với tên Công chúa Hạt mưa.
Tù trưởng rất yêu quý Công chúa Hạt mưa, coi Công chúa Hạt mưa là vật báu trong nhà, luôn nói sẽ tìm cho H Drah Jan Kpă một người chồng xứng đáng. Nhan sắc của H Drah Jan Kpă được người Ê đê ví đẹp như hạt mưa, có thể tưới mát cả mùa màng khô hạn, đem đến sức sống mới cho muôn cây, muông thú.
Khi vua Po Romé gặp H Drah Jan Kpă, vua đã đưa H Drah Jan Kpă về kinh thành, cưới nàng làm vợ hai. Nàng trở thành thứ hậu Bia Than Can của Po Romé... là người duy nhất sinh cho vua Po Romé những đứa con kháu khỉnh.
Theo sử liệu của người Chăm, khi công chúa Hạt mưa về kinh thành, nhan sắc của nàng như nhan sắc của nữ thần mặt trời, đã chinh phục các thần dân của vua Po Romé.
...
Vua Po Romé chết đúng vào lúc vương quốc Champa sụp đổ. Theo tục lệ Champa xưa, những người vợ của vua phải lên giàn hỏa thiêu cùng chồng, để theo hầu hạ vua. Nhưng trong những người vợ vua, chỉ có công chúa Hạt mưa – thứ phi Bia Than Can là dũng cảm nhảy vào lửa chết theo chồng.
Để tưởng nhớ vị thứ hậu chung thủy và dũng cảm, nhân dân Champa đã lập một ngôi tháp phụ, bên cạnh tháp Po Romé. Sau này khi ngôi tháp sụp đổ, tượng bà được đưa vào tháp chính, bên cạnh tượng vua Po Romé.
(Trích theo baotanglichsu đăng trên http://tamhoc.com/…/chuyen-tinh-cua-cong-chua-e-de-va-quoc…/)

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016

Người M’nông không bao giờ ăn thịt voi ... LUẬT TỤC BẢO VỆ VOI

Người M’nông không bao giờ ăn thịt voi ...
LUẬT TỤC BẢO VỆ VOI
Đối với đồng bào M’nông, voi là một tài sản quý, là biểu tượng sức mạnh, sự giàu có và tinh thần thượng võ của gia đình, buôn làng. Chính vì vậy, đồng bào M’nông có cả luật tục để bảo vệ voi.
Điều luật bất thành văn trong luật tục của người M’nông đó là ăn thịt voi, coi khinh voi, chửi mắng hành hạ voi, làm cho voi bị thương hoặc chết, sử dụng voi mà không chăm sóc nó chu đáo thì bị phạt nặng. Những tội như bắn chết voi rừng, giết voi lấy ngà, bắt trộm hoặc cướp voi, để voi nuôi chung bị chết đều phải xử lí nghiêm khắc. Chẳng hạn, ai làm voi bị thương nhẹ phải nộp phạt một ché rượu, một con heo để cúng.
Người nào làm voi mang thương tích nặng phải cúng một trâu, một ché rượu. Làm voi chết phải đền con voi khác. Bắn chết voi rừng làm cho voi nhà buồn mà chết theo thì bị phạt như làm cho voi nhà bị thương.
...
Hằng năm, vào cuối mùa mưa ở Tây nguyên, người M’nông lại tổ chức lễ cúng cầu mong trời đất thần linh ban sức khỏe cho bầy voi nhà mạnh khỏe, nhanh nhẹn, làm việc không biết mệt, không biết ốm đau. Tùy từng khả năng của mỗi gia đình, họ tổ chức lễ cúng sức khỏe cho từng người trong gia đình. Và đặc biệt, những nhà có voi họ cũng làm lễ cầu sức khỏe cho voi. Điều đó chứng tỏ họ đều coi con voi là một thành viên trong gia đình.
Khi một con voi chết, họ không bao giờ giết thịt, họ phải đem chôn...
...
(Trích theo "Người M’nông không bao giờ ăn thịt voi" của Lâm Thanh đăng trên http://vov4.vov.vn/)

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2016

Người anh hùng dân tộc M'Nông... N'TRANG LƠNG

Người anh hùng dân tộc M'Nông...
N'TRANG LƠNG

“Đất nước ông bà ta, rừng cây khe suối là của ông bà ta, sao ta lại bỏ nhà, bỏ bon đi xâu, đi làm đường cho bọn Pháp để chúng giậm lên lưng ông bà ta, phá phách rừng núi ông bà ta”. Câu nói đó không chỉ như một tuyên ngôn khẳng định chủ quyền mà như một lời hiệu triệu, vì vậy mà N’Trang Lơng đã tập hợp được rất nhiều tầng lớp nhân dân, thuộc nhiều dân tộc ở Tây Nguyên theo mình, trong số đó có những người có rất nhiều của cải song vẫn không màng danh lợi mà còn cống hiến tài sản cho nghĩa quân. Đơn cử như tướng Bớ R’Ong Leng vốn là một tộc trưởng, làm rể ở bon Bu Nơr, nhà có hàng trăm con trâu bò, hàng trăm ché quí nhưng ông vẫn quyết tâm theo N’Trang Lơng lãnh đạo nghĩa quân đánh giặc, bảo vệ bon làng. Hay như Bớ R’Đing, tộc trưởng ở Đắk Rih (Tuy Đức), M’Prah, tộc trưởng ở Bù Gia Mập (Bình Phước)…
(Trích theo "Về bon Bu Nơr nghe chuyện Anh hùng N’Trang Lơng" của Hoàng Thanh đăng trên baodaknong.org.vn)
...
Nơ Trang Lơng như chúng ta đều đã biết là người anh hùng của Tây Nguyên, và tên tuổi ông đã trở thành tên đường phố tại nhiều đô thị ở Việt Nam. Sử chép, ông là thủ lĩnh cuộc kháng chiến chống Pháp của người M’Nông vùng rừng núi Tây Nguyên đầu thế kỉ 20. Vốn là tù trưởng bộ lạc Biệt ở Bu Nơ Trang (Bu N’Trang), huyện Đắc Nông, cuối 1911, quân Pháp do Henri Maitre chỉ huy cuộc hành quân bình định tới buôn làng người M’Nông, đốt phá Bu Nơ Trang. Ông kêu gọi dân làng nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa kéo dài 24 năm. Nghĩa quân đã đánh bại nhiều cuộc tấn công, quét sạch các đồn bốt, phản công bất ngờ hệ thống đồn địch ở ven Krachê (Kracheh, Campuchia), giải phóng một vùng M’Nông rộng hàng nghìn km2. Vào những năm 1933 - 1935, quân Pháp tổ chức nhiều cuộc hành quân nhằm truy diệt nghĩa quân. Trong một trận chiến đấu quyết liệt tháng 6/1935, ông bị bắt và bị giết ngày 25/6/1935. Cuộc kháng chiến của người M’ Nông dưới sự lãnh đạo của Nơ Trang Lơng là một trang sử chói lọi lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết đấu tranh giành độc lập của các dân tộc trên đất nước Việt Nam.
(Trích theo "Sách “lạ” của viên đồn trưởng bị anh hùng Nơ Trang Lơng tiêu diệt" của Đỗ Hoàng Hà Châu đăng trên http://thethao60s)

Nét đẹp phụ nữ J'rai... "MANH NHA BẮT CHỒNG!"

Nét đẹp phụ nữ J'rai...
"MANH NHA BẮT CHỒNG!"
Dân tộc J'ai theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu và chủ động việc hôn nhân. Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được thừa kế tài sản. Trái lại, con gái lấy chồng lần lượt tách khỏi cha mẹ ra ở riêng, được phân chia một phần tài sản. Con cái đều theo họ mẹ. Ngoài xã hội, đàn ông đóng vai trò quan trọng hơn, nhưng trong nhà phụ nữ có ưu thế hơn...
...
Nam, nữ người J’rai khi đến tuổi mười tám, đôi mươi được tự do lựa chọn người yêu và tiến tới hôn nhân một cách tự nguyện. Nhà gái cho người mai mối sang nhà trai dạm hỏi (người làm mối đôi khi là già làng, người có uy tín nhất làng). Qua người làm mối, thiếu nữ J’rai tỏ ý và đưa tặng người yêu một chiếc vòng đồng hay một chuỗi cườm. Khi thay lời cô gái nói lên tình cảm của mình và trao vật đính ước, người làm mối cũng hết sức giữ ý, không bao giờ trao tận tay cho chàng trai mà chỉ để trên chiếu. Nếu người con trai chưa xác định được tình cảm của mình thì anh vẫn cầm sính lễ lên một lúc rồi trả lại cho người làm mối. Còn nếu chàng trai đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng cho cuộc hôn nhân thì anh sẽ tự cầm lấy chiếc vòng đeo vào tay mình, không một ai cầm trao cho hay giúp anh đeo nó. Vì theo luật tục đã chỉ rõ: “Trâu bò không ai ép thừng, trai gái không ai ép duyên”. Nếu người con trai đã nhận vòng, người làm mối hẹn ngày gặp mặt để cô gái nhận vòng của chàng trai, trước sự chứng giám của người làm mối và hai bên gia đình, đôi trai gái chính thức hẹn hò với nhau và hai bên gia đình sẽ định ngày tổ chức lễ cưới.
...
(Trích theo "Tập tục hôn nhân của người J’rai ở Kon Tum" của Trần Thị Yến đăng trên kontumquetoi.com)
*Tác giả Jacques Dournes (Pháp) đã tập hợp tất cả những bức ảnh tuyệt đẹp này vào tác phẩm “Xứ Jorai” của mình.

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016

Chuyện xứ Thượng... TIỂU QUỐC J'RAI

Chuyện xứ Thượng...
TIỂU QUỐC J'RAI
Tiểu quốc J'rai (Ala Car P'tao Degar, Dhung Vijaya, Nam Bàn) là một tiểu quốc cổ của các bộ tộc Nam Đảo ở Tây Nguyên, Việt Nam với bộ tộc nòng cốt là người Gia Rai và người Ê Đê hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các bộ tộc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 19.
...
Nước Nam Bàn (sau này là hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá mà ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Đăk Lăk tức miền đất Tây Nguyên) cư dân nòng cốt là người Jarai là tộc người kết hợp giữa người Chăm Vijaya và người Ê Đê cổ.
...
Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục:
Hai vị Thủy Vương và Hỏa Vương nước Nam Bàn, nước này có 50 làng lệ thuộc, trong đó có núi Bà Nam. Núi rất cao và lớn, làm trấn sơn cho một phương
Thủy Vương ở về phía đông núi Bà Nam, còn Hỏa Vương ở về phía tây núi, có địa phận riêng và làm nhà gác bằng gỗ để ở, bộ hạ có đến mấy trăm người.
Khi vua đi đâu thường cưỡi voi, có hơn chục người tùy tùng đi theo, đến làng nào thì đánh ba hồi chuông, dân làng đều ra, họ làm một cái lều tranh cho vua ở (vì kiêng không vào nhà dân). Họ dâng lên vua những thứ như: nồi đồng, tấm vải trắng, hoặc một cây mía, một nải chuối chẳng hạn. Vua cứ việc nhận lấy các lễ vật ấy không nề hà gì. Thu nhận lễ vật cũng không ghi chép gì, xong thì nhà vua đi
Hai Vương mặt đen và xấu nhưng vợ và thiếp thì người nào cũng có nhan sắc đẹp đẽ, họ đều bận xiêm áo của Chiêm Thành có xiêm hoa rực rỡ
Ghi chép của sử sách người Việt qua bộ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn vào năm 1776, khi ông làm quan hiệp trấn ở Thuận Hóa, những ghi chép của Lê Quý Đôn cho thấy từ thế kỷ 17, các vị tiểu vương người Jarai đã triều cống chính quyền Đàng Trong thường xuyên.
Tới thế kỷ 19, khi soạn bộ Đại Nam thực lục, nhà Nguyễn đã có những thông tin về các tiểu vương này với những đồ cống của họ với nhà Nguyễn.
...
Henri Maitre, viên sĩ quan và là nhà nghiên cứu người Pháp trong công trình Les Jungles Moi (Rừng người Thượng) đã có những ghi chép chi tiết về sinh hoạt và đời sống của bộ tộc cũng như các vị tiểu vương ở đây, từ những nghiên cứu của mình ông đã gọi đây là tiểu quốc Jarai, mà trong sử Việt có nhắc tới là nước Nam Bàn.
(Trích theo Wikipedia tiếng Việt)

Nhạc cụ của người Xơ Đăng ... ĐÀN K'LÔNG PÚT

Nhạc cụ của người Xơ Đăng ...
ĐÀN K'LÔNG PÚT
“Ngày xưa, phụ nữ thích chơi đàn này trong những đêm ở trên chòi canh rẫy. Nghe ở gần thì ngỡ âm của nó nhỏ nhưng càng về khuya, tiếng đàn càng vọng xa. Người bên kia quả đồi nghe người bên này chơi cũng mang đàn ra ‘vỗ’, rồi kéo theo 5-7 chòi cùng chơi theo một bản nhạc làm cho không khí của núi rừng sống động hẳn lên.
Thú dữ nghe âm thanh rộn ràng của tiếng đàn thì sợ nên cảnh giác tránh xa. Không chỉ thế, tiếng đàn Klông- pút cũng là một phương tiện thổ lộ tâm tư, tình cảm của một cô gái đã đến tuổi lấy chồng, nhưng chưa có chàng trai nào vừa ý đến cầu hôn. Vì âm thanh của nó nghe tưởng mộc mạc nhưng vô cùng sâu lắng và thiết tha…”.
Cũng như tiếng sáo Đinh-tút của người Giẻ Triêng, tiếng đàn Goong của người Bah Nar, đàn Đing-năm của người Êđê thì đàn Klông-pút là một loại nhạc cụ truyền thống của người Xơ-Đăng thường được sử dụng vào các dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.
(Trích đoạn "Người lưu giữ “linh hồn” đàn Klông-pút của dân tộc Xơ-Đăng đăng trên Soha.vn)
...
Cũng làm từ ống lồ ô là loại đàn Klong put truyền thống của người Xơ Đăng, nhưng cách sử dụng lại khác là vỗ bằng hai tay vào miệng các ống lồ ô để tạo ra âm thanh khá độc đáo. Loại đàn dân gian này được cho là có xuất xứ ở các làng người Xơ Đăng ở xã Đăk Sao, Đăk Na (Tu Mơ Rông), người sử dụng đều là phụ nữ, khi khảo cứu về loại đàn này ở xã Đăk Sao chúng tôi được các cụ cao tuổi người Xơ Đăng ở đây cho biết là đàn Klong put cũng bị quên lãng nhiều năm do chiến tranh, người có công phục chế lại loại đàn này là cụ A Để ở làng Đăk Giá, xã Đăk Sao... Về sau trở thành rất phổ biến ở các làng trong xã và các xã bên cạnh. Từ những năm 2000, đã nhiều lần chúng tôi trực tiếp đưa chị em người Xơ Đăng xã Đăk Sao (Tu Mơ Rông) vác bó ống lồ ô của bộ đàn Klong put này ra Thủ đô Hà Nội để diễn tấu. Không cần cột dây, chẳng cần giá đỡ, chỉ với hai cây lồ ô già để ở hai đầu tạo khoảng cách với mặt đất, chị em người Xơ Đăng cứ thế đặt các ống lồ ô lên và ngồi vỗ say sưa trước sự thán phục của khán giả Thủ đô, của nhiều nghệ sỹ có tiếng ở trung ương và nhất là khách nước ngoài. Không chỉ diễn tấu riêng Klong put mà chị em người Xơ Đăng còn hòa tấu chung Klong put với cả một dàn cồng, chiêng, trống tạo ra những bản giao hưởng nhạc cụ dân gian truyền thống hết sức đặc sắc, mặc dù họ chả biết nó là nốt nhạc gì.
...
(Trích theo "DÂN CA DÂN NHẠC VN – DÂN CA XƠ ĐĂNG/XÊ ĐĂNG" của Trần Lê Túy Phượng đăng trên dotchuoinon.com/)



HUYỀN THOẠI VƯƠNG QUỐC SEDANG (XƠ-ĐĂNG) 1888-1890

Chuyện xứ Thượng...
HUYỀN THOẠI VƯƠNG QUỐC SEDANG (XƠ-ĐĂNG) 1888-1890
Vương quốc Sedang (tiếng Pháp: Royaume des Sedangs; đôi lúc được gọilà vương quốc của người Sedang hay vương quốc của tất cả các dân tộc Sedang – phát âm như Xơ Đăng) là một thực thể chính trị tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn, được thành lập bởi nhà thám hiểm Pháp Charles-Marie David de Mayréna ở cuối thế kỷ 19. Vương quốc Sedang nằm trong khoảng khu vực Tây Nguyên hiện nay.
Nguyên là một nhân viên ngân hàng ở Pháp, Mayréna bắt buộc phải bỏ việc và gia đình sang Java nằm trong Indonesia ngày nay sinh sống vì dính líu đến một số phi vụ lừa đảo. Khi ở Java, ông lại bị nhà cầm quyền Hà Lan trục xuất về Pháp vì lừa đảo một gia đình người Hà Lan ở đây. Năm 1886, ông đến Sài Gòn và sở hữu một đồn điền ở khu vực Nam kỳ.
Trong khoảng thời gian đó, vua Xiêm (Thái Lan ngày nay) sau khi kiểm soát vùng phía nam Lào, đã bắt đầu đòi một số vùng đất lân cận ở Tây Nguyên ngay sát khu vực thuộc quyền kiểm soát của chính phủ thực dân Pháp. Lợi dụng điều này, năm 1888, Mayréna xin phép chính quyền Pháp đi thám hiểm khu vực Tây Nguyên để thỏa thuận với các dân tộc thiểu số ở đây và được toàn quyền Đông Dương lúc đó là ông Ernest Constans chấp thuận. Sau đó, Mayréna đi đến Qui Nhơn để chuẩn bị thám hiểm khu vực Tây Nguyên. Ngày 21 tháng 4 năm 1888, ông rời Qui Nhơn với một người bạn là ông Alphonse Mercurol, một phiên dịch viên, một người đầu bếp, bốn người Trung Quốc và 80 người hầu. Trong thời gian này, ông chữa bệnh cho một số người dân tộc thiểu số và được một số làng ở khu vực này phong làm trưởng làng. Lợi dụng điều này, ông thuyết phục một số dân tộc thiểu số (cụ thể là hai dân tộc Ba Na và Xơ Đăng) rằng họ có thể thành lập một vương quốc riêng, hoàn toàn độc lập. Ngày 3 tháng 6 năm 1888, vương quốc Sedang được thành lập với Mayréna là vua, lấy hiệu là Vua Marie đệ nhất, vua Sedang. Thủ đô được lập tại làng Kon Gung, hiện nay thuộc xã Dak Mar, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum.[1] Thủ đô lấy tên là Pelei Agna hay thành phố vĩ đại. Một số nguồn nói rằng tên thủ đô của vương quốc Sedang là Maria Pelei. Hai ngày sau, Mayréna hoàn thành hiến pháp cho vương quốc Sedang.
Một phần do khoảng thời gian tồn tại ngắn ngủi cũng như việc vương quốc Sedang không được bất cứ quốc gia nào công nhận, không ai rõ quốc kì của vương quốc Sedang trông thế nào, nhiều nguồn chỉ ra nhiều quốc kì khác hẳn nhau. Tuy nhiên, hiến pháp của vương quốc Sedang ghi là cờ của vương quốc Sedang màu xanh da trời, có một cây thập giá màu trắng, ở giữa cây thập giá là một ngôi sao màu đỏ.
Sau khi thành lập vương quốc Sedang, Mayréna quay về Qui Nhơn và thuyết phục chính quyền thực dân Pháp mua lại vương quốc Sedang đổi lấy độc quyền thương mại cho ông và nhiều lần ngụ ý sẽ nhượng lại cho người Phổ nếu Pháp không mua. Sau khi Pháp từ chối đề nghị này, Mayréna mượn tiền từ một thợ may người Trung Quốc tên là A. Kong và đặt hàng 1000 bộ đồng phục. Sau đó ông đi Hồng Kông với ý định bán lại vương quốc Sedang cho người Anh, trong chuyến đi đó, ông dùng hết số tiền vay được từ A. Kong. Cũng như Pháp, chính phủ Anh cũng từ chối đề nghị của Mayréna. Trong thời gian Mayréna ở Hồng Kông, công sứ Quy Nhơn LeMire – một người ủng hộ Mayréna bị cách chức, thay vào đó là Guiomar – một người quyết liệt chống lại sự hình thành vương quốc Sedang. Sau khi bị từ chối ở Hồng Kông, Mayréna đi đến Bỉ và thỏa thuận với một người Bỉ có tên Somsy, qua đó Somsy cung cấp vũ khí và tiền cho Mayréna đổi lấy độc quyền khai thác khoáng sản ở vương quốc Sedang. Mayréna định tuồn số vũ khí này vào Việt Nam với ý định giành lại quyền kiểm soát vương quốc Sedang. Kế hoạch của ông đổ bể do bị hải quân Pháp chặn lại và vũ khí của ông bị tịch thu với lí do buôn lậu ở Singapore.
Sau khi kế hoạch giành lại quyền kiểm soát Sedang đổ bể. Mayréna cải đạo thành đạo Hồi, cưới một phụ nữ người Malaya (nay là Malaysia) và định cư tại đảo Siribua. Sau đó ông đến đảo Tioman, Malaya với hai người bạn là Horace Villeroi và Harold Scott và mất ở đây ngày 11 tháng 11 năm 1890 không rõ lý do. Vương quốc Sedang coi như không còn tồn tại.
(Trích theo "HUYỀN THOẠI VỀ VƯƠNG QUỐC SEDANG TẠI KONTUM" trong "Tài liệu” mua vui cũng được một vài trống canh” đăng trênkontumquetoi.com)