Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

Bóng dáng người Thượng...

Bóng dáng người Thượng...
Cư dân sống trong một làng Ê Đê được gọi là mnuih buôn sang. ở đó có những tục lệ bắt buộc người ta phải tuân theo. Bất kỳ ai không tuân thủ đều bị coi là vi phạm tập quán pháp.
Trước hết, các thành viên trong buôn làng phải sống hoà thuận, giúp đỡ, tương trợ nhau khi có khó khăn, hoạn nạn. Trách nhiệm và bổn phận của thành viên trong buôn làng là: Khi thấy một người mang củi nặng phải cùng giúp mang đi; ai đang làm dở dang nhà cửa mọi người phải chung tay giúp hoàn thành; có người chết mọi người phải đi an táng, v.v. Ai không thực hiện như vậy là vi phạm tập tục, người đó phải đi gặp chủ làng để làm sáng rõ việc làm.
Không một ai có thể tuỳ tiện thay đổi nơi sinh sống, nay ở buôn làng này, mai ở buôn làng kia, khi chưa có sự chấp nhận của chủ làng. Ai vi phạm quy định này bị coi là thành phần hư hỏng, nguy hiểm.
Nhiệm vụ chung nhất của cư dân làng là cùng nhau bảo vệ buôn làng, chống hoả hoạn, dịch bệnh, thú rừng phá hoại mùa màng, nương rẫy. Hàng năm tham gia lễ cúng bến nước và các hoạt động nghi lễ khác của cộng đồng.
(Trích đoạn trong "Ứng xử văn hóa trong xã hội Ê Đê, Gia Rai" của TS.Đỗ Hồng Kỳ)


LÁ GIANG RỪNG

LÁ GIANG RỪNG
...
Hồi đó, thanh niên đi lao động đào kênh, mình trong tổ nấu bếp.
Thức ăn mặn thì mọi người đem theo từ nhà, thời khó khăn đó, vừa là không có tiền mua thịt vừa là không có thịt mà mua, cho nên thức ăn mặn của ai cũng giống nhau: muối sả. Nhà bếp chỉ nấu cơm và canh.
Nghe thì đơn giản vậy nhưng phải tính toán để biết loại rau củ nào để lâu được thì mới mua đem theo vì đợt lao động kéo dài 15 ngày.
Rau xanh không thể để lâu, lại dễ bị giập nát, cho nên tổ bếp chọn mua bí đỏ, bí đao.
Suốt tuần lễ hết canh bí đỏ qua canh bí đao và ngược lại. Mình và một chị đi vào buôn của người Ê Đê ở gần đó hỏi mua rau. Người Ê Đê không biết tiếng Kinh, bọn mình không biết tiếng Ê Đê. Hai bên há miệng quơ tay một hồi thì người Ê Đê quay vô nhà lấy ra cái gùi, trong gùi có một nắm lá xanh, người Ê Đê đưa nắm lá cho mình rồi nói “giang” và chỉ tay vô rừng.
Hái được một ôm lá đầy nhóc, bọn mình hồi hộp nấu nồi canh lá xanh đầu tiên giữa rừng. Canh thời đó chỉ có nước và muối, được nhúm bột ngọt nữa thì đã quá ngon.
Suốt buổi lao động giữa nắng, đi bộ một quãng dài từ nông trường về lán, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cổ họng khô khốc, được húp chén canh chua giải nhiệt, ai nấy đều cảm thấy nhẹ nhõm. Có người vui vẻ bình: Giang có lẽ là cách phát âm chệch đi của từ “Giàng”. Người Ê Đê gọi Trời là Giàng. Rau rừng là rau của Trời, không đúng sao? Lá giang, lá của rừng, lá của Trời cho. Lời bình đi xa hơn, giang là sông. Trời nắng mà được ăn canh lá giang khác nào được… tắm sông! Bữa cơm đạm bạc rộn ràng tiếng cười nhờ tên gọi của lá.
Cô gái chạy bàn cho biết lá giang không phải lúc nào cũng có, nhà hàng phải thuê người vô rừng hái rồi cất trong tủ lạnh để dành.
Nỗi nhớ đưa tôi về một thời xung phong lao động hăng hái và trong trẻo.
NGUYÊN HƯƠNG (báo Phụ Nữ)


LỄ TRƯỞNG THÀNH CỦA NGƯỜI Ê ĐÊ

LỄ TRƯỞNG THÀNH CỦA NGƯỜI Ê ĐÊ
Thầy cúng khấn cám ơn Giàng, thầy cô, bố mẹ, anh em, vật nuôi và những vật dụng sinh hoạt trong nhà đã giúp cho chàng trai có được cuộc sống tốt như ngày hôm nay. Họ cầu xin những người đã khuất tha thứ cho lỗi lầm của con cháu, và phù hộ mang lại những điều tốt lành cho người trưởng thành.
Lễ trưởng thành là bước ngoặt trong cuộc đời của chàng trai Ê Đê. Từ đây, chàng trai sẽ được công nhận là người đã trưởng thành và có thể tự lập được cuộc sống của mình như lập gia đình hay ra ở riêng... Tuy nhiên cũng có rất nhiều chàng trai Ê Đê lập gia đình sinh con rồi mới làm lễ trưởng thành.
Y Thac Miâo là một thanh niên của buôn làng Ê Đê, năm nay 29 tuổi, đến từ thị trấn Ea Sup, huyện Ea Sup, Tỉnh Đắk Lắk, người vinh dự được tổ chức lễ trưởng thành của mình tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam...
(Trích trong "Tái hiện Lễ trưởng thành của người Ê Đê" của Hoài Nam đăng trên Làng Việt)


Xứ Thượng... HUYỀN THOẠI THÁC DRAY K'NAO

Xứ Thượng...
HUYỀN THOẠI THÁC DRAY K'NAO
Theo quốc lộ 26A từ Buôn Ma Thuột đi Nha Trang, đến km 85 thuộc xã Krông Jin, huyện M'Drăk (Ðắc Lắc), du khách bắt gặp một tấm biển ghi: Thác Ðray K'nao.
Dray K’nao nằm trên dòng suối Ea Krăng, là nơi giao nhau của các con suối Ea Toong, Ea Tlư và Ea K’sumg. Thác đổ ra sông Krông Hding. Đầu nguồn của thác là đỉnh núi Cư Pă và dãy núi Cư Yang Sin hùng vĩ.
Nếu như thác Dray Nur và Dray Sáp mang một huyền thoại về mối tình chúng thủy của vợ chồng Dray Nur,Dray Sáp thì Dray K’nao lại cũng mang trong mình một huyền thoại về cô gái của núi rừng Tây nguyên với lòng hiếu thảo động trời xanh. Chuyện kể rằng nàng K’nao sống chung với mẹ ở một buôn làng nọ, một hôm mẹ của K’nao bệnh nặng khó bề qua khỏi. Nghe người ta mách ở đỉnh núi bên kia có một loại thảo dược có thể cứu sống mẹ nên K’nao đã lên đường đi tìm. Nàng đi mãi, đi mãi từ ngày này sang ngày nọ mà vẫn không tìm được loài thuốc quý ấy. Mặc dù đôi chân đã sưng lên, toàn thân bị gai cào nhưng nàng không hề bỏ cuộc. Đến một ngày nọ vì quá mệt mỏi nên nàng đã nằm lên tảng đá to để ngủ và rồi nàng đã chết trên tảng đá ấy. Thân thể của nàng, mái tóc của nàng uốn quang tảng đá đã biến thành dòng thác chảy róc rách len theo từng gốc cây, tảng đá để tiếp tục đi tìm thuốc cho mẹ. Khi biết về tấm lòng hiếu thảo của nàng, người dân ở đây đã đặt tên cho con thác này mang tên nàng, Thác Dray K’nao.
Câu chuyện về nàng K’nao không còn nhiều người nhớ nữa, chỉ có những già làng mới có thể kể tường tận cho các bạn nghe. Nếu đến nơi đây mà có thể ở lại qua đêm thì còn gì hơn. Khi núi rừng đã đi ngủ, mọi người ngồi quay quần bên bình rựu cần với ánh lửa lập lòe nghe già làng kể chuyện thì còn thú vị nào bằng. Ngoài ra, thác Dray K’nao rất phù hợp để các nhóm bạn đi dã ngoại hoặc cắm trại qua đêm vì nơi đây có đầy đủ tiện nghi để làm điều ấy. ( Theo http://tuoitre24h.net/)


Xứ Thượng... THỦY ĐIỆN TƯ NHÂN ĐẦU TIÊN

Xứ Thượng...
THỦY ĐIỆN TƯ NHÂN ĐẦU TIÊN
Công trình thủy điện Krông Hin, huyện M’Đrắk, Đắk Lắk của kỹ sư Nguyễn Quyền hiện đang giữ nhiều cái “nhất”: Thủy điện tư nhân đầu tiên ở Tây Nguyên, thủy điện tư nhân duy nhất ở Đắk Lắk có lãi, thủy điện thân thiện với môi trường, thủy điện vừa và nhỏ có đường ống xiphông dẫn nước dài nhất…
...
Thay vì phải chở từng ống thép xiphông từ TP. Hồ Chí Minh vượt gần 500km đến công trường, ông tự chế tạo hẳn một máy cuốn thép, mua thép cuộn về tự sản xuất hơn 2.000 ống xiphông có đường kính 1,6m. Máy tời, cần cẩu để lắp ghép từng đoạn ống xiphông nặng 3,5 tấn cũng được ông “chế” lại để dễ dàng vận chuyển và vận hành phù hợp với địa hình đồi dốc thẳng đứng ở đây. Sau gần 4 năm, từ khi nộp hồ sơ xin đầu tư, ngày 26/7/2006 hai tổ máy của Nhà máy thủy điện Krông Hin có cột nước áp lực hơn 120m, công suất 5MW đồng loạt phát điện, hòa vào điện lưới quốc gia. Ông Quyền tâm sự: “Mỗi lần nhớ đến thời khắc công trình thủy điện do mình lập bản vẽ, bản thiết kế, tự đánh máy toàn bộ bản thuyết minh, rồi trực tiếp chỉ đạo thi công, vận hành… hòa vào lưới điện quốc gia thành công, tôi lại xúc động muốn khóc” . ( Theo TTXVN )
ThienNhien.Net – Mấy năm nay, cái nhìn của công luận về thủy điện – nhất là thủy điện vừa và nhỏ, nhuốm màu ảm đạm, với định kiến nặng nề về hậu quả phá rừng, gây lũ lụt hoặc suy kiệt nguồn nước. Trên nền xám đó, thủy điện Krông Hin (xã Ea M’đoan, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) – công trình thủy điện tư nhân đầu tiên của cả nước đã nổi lên như một điểm sáng về “thủy điện xanh”.


Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Nhớ Banmê... THÀNH PHỐ TUỔI THƠ TÔI ...

Nhớ Banmê...
THÀNH PHỐ TUỔI THƠ TÔI ...
Tôi đã bắt đầu bài tuỳ bút này bằng những lang thang quanh ngôi trường cũ, bắt đầu bằng những kỷ niệm tuổi thơ nơi phố núi Ban Mê mù sương một thuở với những hàng cây vút cao như rừng giữa phố, chứ không phải thành phố Buôn Ma Thuột đèn vàng đèn đỏ ngợp nhà gương nắng và bụi hôm nay.
Phố núi lúc ấy hiền lành và thưa vắng hơn bây giờ nhiều. Cùng với những thằng Tí, thằng Tèo sau giờ tan học, tôi trốn nhà đi hoang xuống suối Đốc Học, móc đất sét để tha hồ nhào nặn những con vật cho tuổi thơ của mình và nhận về rất nhiều lấm lem bùn đất. Hút tầm mắt đứa bé mũi xanh là bạt ngàn những vườn rau cải xanh cải trắng ướt đẫm sương sa qui ra cơm gạo chứ không phải toàn hoa như trong truyện cổ tích tôi vẫn thường nghe kể. ông già hớt tóc quen mặt đã bỏ dở một cái đầu đang nửa trắng nửa xanh trên ghế để dắt tôi về nhà ăn trận đòn nhớ đời cộng với rất nhiều lời than vãn tuyệt vọng dành cho tôi của mẹ.
Nhà tôi ở đường Tôn Thất Thuyết, một con đường nhỏ thời ấy (đường Lê Hồng Phong bây giờ). Ngõ hẻm phía sau nhà vẫn là chỗ mẹ tôi và hàng xóm mắc võng ầu ơ đón gió mỗi trưa hè, trong lúc chúng tôi lăn tăn uốn quẫy trên nền gạch bông mát lịm. Rồi thế nào ngang con hẻm ấy cũng có một người đàn ông Tàu gánh chè mè xay với chiếc mũ nhựa kiểu Pháp trắng nhờ trên đầu, ới những tiếng rao nao nao nhung nhớ, thế nào mẹ cũng mua cho mỗi đứa một chén chè chiều. Ngõ hẻm ấy còn nhiều tiếng rao nữa, những tiếng rao ôi ao lảnh lót không biết người ta rao gì nhưng biết người ta bán cái gì, quen thuộc đến mức lớn lên có thể tả thành văn chương như thể cuộn cả buổi trưa hè với miếng bột bánh bèo, đậu xanh, mỡ hành, nước mắm đường ngọt lịm. Con hẻm ấy bây giờ không còn. Phía đường Quang Trung thì một nhà hàng ăn uống quốc doanh (bây giờ là chi nhánh một ngân hàng lớn) bịt mất. Phía đường Ama Trang Long thì nhà dân phố chợ ọp ẹp ván gỗ và cửa hàng vàng bạc kính gương sang trọng chèn lấp sau bao biến động. Chả còn ai qua lại nữa. Cái sức sống từ chợ luồn vào theo con hẻm vào từ phía Nguyễn Quang Trung thuở nào đã mất. Hẻm vắng không còn nhưng người đàn ông Tàu già ngày ấy như vẫn còn. Đã đàng hoàng mặt tiền nhà cuối Phan Bội Châu, vẫn cha truyền con nối cái nghề ấy. Người con dâu vẫn ngồi lặng lẽ trước nhà mỗi tối, anh con trai lăng xăng bưng bê cho những cặp tình nhân trẻ bây giờ những chén chè đen nhức mắt, vẫn dịu dàng mùi mè ngầy ngậy béo hồi xưa. Tôi đã có lần không chịu nổi cái hồi xưa ấy, tạt vào làm quen và làm giọt rượu tràn đêm cùng người con trai ôi a đến sáng, tìm lại những dấu vết đã trôi đi. Đã trôi đi như tuổi tên người. Có những điều còn lại. Một điều tôi sẽ kể sau khi bạn đọc cùng tôi nhớ lại một thôi dài. Con đường Nguyễn Thái Học (bây giờ là đường Điện Biên Phủ) ngày trước vẫn xuyên suốt, không bị đứt quãng ở chợ bây giờ. Nửa quay lên đường Y Jut là đình Lạc Giao (với cây đa trăm tuổi bao nhiêu rễ phụ tua tủa râu ria bạc trắng và muôn ngàn chú sóc mà mãi gần đây theo gió mưa mới đổ, chắn ngang cả đường Lê Hồng Phong. Ngôi đình huyền thoại của những người Kinh đầu tiên lên xứ Thượng, có mặt trước cả chùa Khải Đoan bằng gỗ quý tuyệt đẹp mà đức Từ Cung làm cho sau này. Những đứa trẻ bị bỏ hoang thời ấy người ta vẫn ẵm xuống chùa dộng một hồi chuông trước khi mang vào Cô nhi viện Bồ đề. Nửa phía dưới quay xuống đường Tôn Thất Thuyết (nay là Lê Hồng Phong) là ngôi trường Nguyễn Công Trứ. Đây là ngôi trường dành cho các cậu học sinh nam tiểu học mặc quần soóc. Học sinh nữ với váy đầm phồng ra như những búp bê cột tóc với một cọng thun học ở trường Bà Triệu (nay là trường Võ Thị Sáu). Cái kiểu phân chia nam nữ ấy ở cấp một không sao, nhưng lên lớp lớn hơn thường còn lại những huyền thoại ngày xưa Hoàng Thị mà các trường nữ sinh Gia Long áo tím vẫn phơ phất bay trong mộng tưởng một lớp người. Chính đoạn đường Nguyễn Thái Học bị lấp thành chợ ấy, mất hút cả ngôi trường tiểu học ngày xưa, cái khúc vòng quanh từ sân đình Lạc Giao vào sân chợ, nhộn nhịp người mua kẻ bán và một dãy dài những chiếc xe lam cũ vẫn đậu, phả khói nồng nặc và nổ như tiểu liên để chở người và hàng hoá từ chợ ra muôn hướng… hình như có ngôi nhà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sinh ra và sống cùng bố mẹ những năm xưa lăng lắc trước khi về Huế chập chững tiểu học Nam Giao. Sông kia rày đã nên đồng… Những vùng đất sẽ sang trọng biết bao nhờ những tên người. Người nhạc sĩ đã trở thành tài sản của những người yêu âm nhạc Việt Nam đã chôn nhau cắt rốn ở đây. Diễm ngày xưa đã từng đi ngang đấy. Chỉ riêng điều ấy thôi đủ làm những người dân phố núi yêu Trịnh mỗi đêm nến đỏ đèn khuya thêm sương gió vô hồi.
Thành phố tuổi thơ tôi còn lập loè vó ngựa mà biển bây giờ đã mất. Cái khu đất rộng ở ngã ba đường Ama Trang Long nhìn xuống Lê Hồng Phong hôm nay sừng sững một toà cao ốc đang xây, ngày ấy là bãi đất trống cỏ mọc như vườn, lõm bõm những chiếc xe ngựa thồ uể oải nằm chờ khách. Không như những thổ mộ hoa đèn Đà Lạt, xe ngựa phố núi xù xì ẩm mốc như một chiếc xe tải nhỏ bây giờ, với hai sọt cỏ xanh ngút đàng sau, chất đầy những cô những bà hàng xén và treo đầy thúng giỏ, ngược dốc lọc cọc. Người phu già bao giờ cũng nhảy xuống cho xe nhẹ bớt, rồi vừa đẩy vừa chạy theo tắc họ lung tung ra roi vun vút trên nền âm thanh trơn trợt móng sắt của chú ngựa gầy gõ trên đường tráng nhựa. Cái bến xe ngựa hấp dẫn tôi lạ lùng. Tôi không được vào chơi với những chú ngựa đã tháo yên cương đang rủ bờm tung vó thì chúng theo tôi vào ngủ giấc mơ. Những chú ngựa bay trên hai cánh với chàng hoàng tử cứu nàng công chúa, bỏ lại những tuyệt vọng mỏi mòn với xô nước cám và những xâu cỏ buồn thiu. Mà phố núi buồn nhất lúc nào? Lúc mưa. Đẹp nhất lúc nào? Lúc mưa. Mưa buồn vì không có quần áo khô mặc đi học, dép dính bùn lên tới lưng những giọt đất màu nâu lấm tấm rỗ hoa phải giặt mà chả có cơ số để thay. Mưa vui vì ngày xưa mẹ không nấu cơm, đong gạo dắt tôi đi xuống phía cuối đường Hoàng Diệu bây giờ, để xay bột về đúc bánh xèo. Nhà cửa dưới ấy còn thưa vắng, mỗi ngôi nhà như một khu vườn hoang quay mình ra phố, rào qua quít bằng kẽm gai cũ hay thưa thớt những hàng chè tàu. Ngôi nhà mà mẹ tôi vào xay bột cũng thênh thang với cánh cổng được làm bằng khung gỗ rồi đan lưới kẽm gai, cột và mở ra bằng sợi dây được xoắn lại từ da trâu, cũng kẽo kẹt khi người ta ngang khu vườn như ru võng. Cái cối đá xay tay tưới nước ấy chắc còn là niềm vui cho biết bao gia đình. Miếng bánh xèo áp chót khi đã hết tóp mỡ, mẹ thường rắc ít giá và tráng chảo thật mạnh cho giòn, cuốn lại cho tôi ngồi kế bên chờ ăn thêm để tranh phần yêu thương của mẹ. Của không ngon đông con cũng hết, mẹ thường dỗ sau mỗi lần như thế bằng ánh mắt xa xôi… Ăn xong thoắt cái đã tràn ra đường tắm mưa, vò xé đầu tóc, cầm chặt lưng chiếc quần đùi vì sợ tụt xuống do sợi thun quần đã dãn, rồi chạy đuổi nhau ơi ới. Mẹ đi bắt về đứa nào cũng đã tím tái móp meo. Bắt về rồi chúng tôi cũng vùng thoát. Thành phố tuổi thơ tôi còn biết bao bí ẩn cần khai phá. Thời ấy, những quán cà phê phố núi chưa nhiều, với những cái tên Uất kim hương, Bâng khuâng, Đồng xanh… lạ lùng những giàn hoa giấy phủ leo kín cổng nhìn như một hang động, bên trong vài ánh đèn xanh đỏ và những tranh ảnh không biết đâu hút hồn những đứa trẻ khao khát vén sương mù. Chúng tôi đứng trước quán nhìn vào, chờ người chủ quán ra xua tay một cái là ù té chạy dài và cười nắc phố. Hồi ấy người ta không uống cà phê mà uống cả không gian và thời gian của quán. Bao nhiêu là nước chảy qua cầu, những giọt cà phê không đường đã gieo những hạt giống đậu đen đậu trắng tính cách đầu đời cho đứa trẻ phố núi... ( Trích tùy bút "Thành Phố Tuổi Thơ Tôi..." của nhà thơ LÊ VĨNH TÀI )


Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

MƯA RỒI, BAN MÊ ƠI

MƯA RỒI, BAN MÊ ƠI
Dập gót, ta quay đi, không một cái ngoái đầu nhìn lại. Ban Mê xa dần, ngút mắt theo con đường, theo những chuyến xe. Đất Tây Nguyên xanh như màu của rừng núi đại ngàn, có câu hát tình ca của chàng trai Đam San một thời huyền thoại, đòi bắt Nữ Thần Mặt Trời về làm vợ ngày xưa...
Và, Ban Mê xanh những cơn mưa bất chợt vào những ngày tháng Tư, tháng Năm, ta nghe một nỗi nhớ thật êm. Hay nhớ và quên, để đắng đót một đời, khắc khoải cả khoảng trời kí ức, có mẹ ta, có bóng dáng hiền hòa vất vả một đời nuôi ta khôn lớn thành người...
Đi, và ta đã đi xa, thật xa như một cánh chim trời, ta vô tình hòa mình vào miền đất khác.
Mẹ đợi chờ, mỗi chiều ngồi ngóng nơi bậu cửa: ngày ta trở về...
Bỗng dưng, ập òa, giật mình, khi ta thấy Huế ướt đầm cơn mưa quên trời quên đất, quên người... Ta nhận ra đôi chân mình đã từng đi qua những góc đường này mỗi mùa mưa đến.
Ban Mê vẫn xanh, vẫn lành lạnh âm ấm khi li cà phê trong góc nhỏ nào đó chập chờn những khói, những giọt long tong đen nâu sóng sánh. Nhấp li ở đất này, để nhớ Ban Mê hơn...
Mưa đến rồi đi, hay một ta thong dong đổi dời bến cũ, tìm kiếm những chân trời xa lơ xa lắc, để rồi có ngày ùa ào bật khóc: Nhớ Ban Mê mỗi mùa mưa về...
(Nguồn : chaobuoisang.net)