Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

KỶ NIỆM NGHE ĐÀI BBC *Phùng Ngọc Cửu

 Xứ Thượng

1 ngày 
Đã chia sẻ với Công khai
Công khai
Nhớ những con đường đất đỏ khi mưa về... nhớ cả những chuyện bị cấm cản ngày xưa...
KỶ NIỆM NGHE ĐÀI BBC
*Phùng Ngọc Cửu
Viết mail hàng ngày, xem thông tin hàng ngày thành thói quen không thể thiếu được đến độ không còn thắc mắc tại sao mọi thứ lại sẵn có và nhanh ngang với tốc độ của … ánh sáng như vậy. Chợt nhớ rằng mình rất ít khi ra bưu điện trừ phi gửi bưu phẩm, chẳng bao giờ đọc báo..., và cũng chợt nhớ rằng từ lâu, lâu lắm rồi không còn nghe radio nữa. Giờ đây tin tức tràn ngập trên mạng, không có thì giờ để đọc hết. Màn sắt hay màn tre, tường lửa hay tường khói đều trở thành vô dụng trong chính sách hỏa mù, che mắt thiên hạ. Bỗng dưng nhớ lại và thấy thèm những giây phút lén lút nghe tin tức đài BBC hay VOA của thời mà bức màn sắt còn đắc thắng buông xuống, ngăn chận mọi thông tin từ bên kia thế giới tự do khiến cho cả dân tộc bị mù lòa, câm điếc.
Tháng ba năm hai nghìn mười một, nghe BBC tiếng Việt sắp kết thúc chương trình phát thanh sóng ngắn, mặc dù đã không còn nghe chương trình này từ khi có trang mạng bbc.co.uk/vietnamese, tôi vẫn thấy buồn buồn như một điều gì đó thân thiết của cuộc sống mất đi! Lúc đó tôi muốn gửi đến, dù không thành, các anh chị trong chương trình BBC tiếng Việt từ thuở “khai thiên lập địa” đến phút cuối farewell party lời cảm ơn chân thành đã mang lại cho người Việt từ lâu lắm cái thuần khiết của thông tin mà tự thân họ cảm nhận và đối chiếu.
Tôi bắt đầu nghe đài BBC từ năm 1967 lúc còn là học sinh lớp đệ ngũ, trung học đệ nhất cấp. Cơ duyên này chỉ đơn giản là do một người bạn tặng cho bố tôi một chiếc radio 2 bands, hiệu Sanyo. Có lẽ ngày ấy tôi còn trẻ chưa hiểu biết nhiều về thời cuộc nên cũng chẳng mở radio làm gì, có chăng thi thoảng để nghe nhạc, mặc dù luôn ý thức rằng Miền Nam Việt Nam đang có chiến tranh ác liệt. Tôi vẫn tự xem mình là chủ nhân chiếc radio bé nhỏ này vì cả gia đình tôi không ai có nhu cầu nghe radio cả.
Thế rồi cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân bùng nổ. Ban Mê Thuột cũng như hầu hết các tỉnh thành trên toàn cõi Miền Nam chìm trong bom đạn, pháo kích, và biển lửa đang lúc mọi người cúng tổ tiên ông bà. Gia đình tôi bỏ nhà cửa chạy lánh nạn vào trung tâm thị xã ... Tôi cũng bỏ lại tất cả nhưng chiếc radio bé bỏng thì luôn mang kè kè bên mình. Mỗi sáng, chiều, tối đều đặn tôi mở đài BBC nghe tin tức trong khi bom đạn rì rầm ngoài xa hay chát chúa ngay trong trung tâm thị xã. Nhờ thế, tôi biết được khá rõ tình hình chiến sự, những thành phố nào trên toàn cõi Miền Nam bị tấn công, những thành phố nào bị tàn phá và thiệt hại nặng nhất.
Rồi tôi đã thấy thân quen với nhạc hiệu của đài cùng tên các anh chị trong ban Việt ngữ. Ngày đó tôi đã phân biệt giọng đọc của các anh Hữu Đại, Xuân Kỳ, Đỗ Văn, v.v... và sau này là chị Lan Anh, Hồng Liên (không còn nhớ rõ lắm các anh chị xuất hiện trên chương trình vào những thời điểm nào). Không hiểu vì sao tôi lại tin chắc (hay tưởng tượng) rằng các anh chị ấy phát âm đúng giọng Hà Nội, giọng nói và cốt cách mà tôi chỉ được biết qua những nhân vật trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn: trầm, ấm, điềm đạm, chuẩn mực ...
Sau biến cố Mậu Thân tôi vẫn nghe BBC nhưng không đều đặn lắm vì phải lo học hành cho đến ngày Ban Mê Thuột thất thủ. Lúc đó tôi đang học ở Sài Gòn, cả gia đình tôi bị kẹt ở Ban Mê Thuột nên tôi rất cần thông tin, và có lẽ tin tức khả tín nhất về tình hình chiến sự thì không đâu nhanh và chính xác bằng BBC. Thế là tôi nghe BBC đều đặn hơn.
Thành thật thú nhận rằng tôi “nghiện” BBC rất nặng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tôi thực sự hiểu được thế nào là “bức màn sắt” nên càng ôm chặt lấy chiếc radio bé bỏng hơn bao giờ hết. Tôi quay lại Ban Mê Thuột với bố mẹ già và ngày ba buổi kín đáo lên gác nghe BBC, volume vặn nhỏ tối đa!
Sau đó tôi bị điều vào vùng kinh tế mới dạy học, cách thị xã Ban Mê Thuột 40 cây số, mãi tận trong rừng. Trong trường mấy chục giáo viên đều đỏ và hồng cả, chỉ mỗi riêng tôi không “giây giưa” tí màu sắc nào của hàng ngũ này. Tất nhiên, là dân miền Nam lại “nghiện” nặng BBC nên tư tưởng không thể nào thông được. Thế nhưng việc nghe BBC đều đặn trong một môi trường như vậy trở nên vô cùng khó khăn và nguy hiểm, trong một ngôi trường mà mọi sinh hoạt không khác một trại bộ đội tí nào. Này nhé, xuất nhập trường đều phải trình báo với tay hiệu trưởng vốn là thương binh bộ đội, cặp mắt lúc nào cũng dò xét. 7 giờ sáng học sinh vào lớp, thế là việc nghe chương trình BBC buổi sáng xem như đi đoong! Buổi tối thì giáo viên bị lùa văn phòng soạn bài bên chiếc đèn dầu hột vịt leo lét, thế là lại vĩnh biệt chương trình BBC buổi chiều lúc 7 giờ hay 7giờ 30 gì đó. Chỉ còn vớt vát chương trình lúc 9 giờ 30 tối, nhưng lại bị phân công gác trường hai đêm một lần, gác theo ca, phòng FULRO đột nhập vào trường … cướp lương thực. Tôi gác “chay”, nghĩa là không bao giờ được phát súng. Vả lại, ai mà giao súng cho một tên không giây tí mảu đỏ nhỉ. Càng tốt! Rất may ca của tôi bắt đầu từ lúc 9 giờ 00 đến 11 giờ. Vì thương con đi dạy học xa trong rừng, lo sợ bị sốt rét nên bố tôi may cho tôi một chiếc áo khoác bằng vải poncho, có một cái túi khá rộng bên trong. Đây là nơi tôi đựng chiếc radio. Cẩn thận cắm dây nối headphones dấu bên trong áo, nhét vào hai tai, kéo fermeture áo đến tận cổ, dựng cổ áo thật cao để giấu hai sợi dây headphones màu trắng ... Thế là an toàn! Công việc còn lại là kéo fermeture áo xuống, lùa tay vào mở đài, dò đài, rồi kéo fermeture lên ... Vì không muốn gián đoạn chương trình một giây phút nào nên tôi luôn mở và dò đài trước đó. Có một chương trình tiếng nước ngoài phát ngay trước BBC tiếng Việt nên tôi dò sẵn và nghe chờ mặc dù chẳng hiểu họ nói gì. Sau này tôi mới biết đó là chương trình BBC tiếng Miến Điện. Tôi quen với ngữ điệu này đến nỗi bây giờ nếu có du khách nào phát âm ngôn ngữ này ở giọng cuối câu thì tôi nhận biết ngay họ là người Miến Điện...! Đứng ở cuối hiên dãy phòng nhà ở giáo viên lợp tranh vách phên tre, tôi chong mắt nhìn vào màn đêm, chiếc áo poncho kín hơi nóng phát khiếp nhưng tôi cố chịu đựng, căng thẳng ngong ngóng chờ nhạc hiệu BBC ...
Một đêm, rất may không phải ca tôi gác, mấy gian nhà tranh phòng học và phòng ở của ban giám hiệu bị phóng hỏa. Mấy chục giáo viên nhốn nháo, náo loạn, còn các giáo viên nữ vừa ôm đồ chạy vừa khóc như ri. Ngay sáng hôm sau hai xe chở đầy công an áo vàng ở thị xã BMT vào điều tra vụ đốt trường. Họ ở lại trường mấy ngày để lùng xục. Nhiều nghi can bên ngoài trường và vùng lân cận bị điệu đến trường để xét hỏi, lấy cung, và bị đánh đập ngay trong phòng học còn lại ... Thấy thật chóng mặt! Tôi rất lo, không biết mình có bị điều tra oan hay không. Nhưng một nỗi lo khác là phần nghe chương trình BBC buổi tối của tôi sẽ bị gián đoạn. Lý do là trước kia mỗi phòng tranh, vách nứa, nền đất có ba giáo viên ở, mỗi người có giang sơn một chiếc giường nhỏ nên tôi rất thoải mái lúc 9 giờ 30 tối. Từ hôm gian nhà ban giám hiệu bị phóng hỏa, mỗi tối lão hiệu phó vác mền qua ngủ nhờ giường tôi. Cái này mới gay go làm sao! Tôi suy nghĩ ghê lắm, cuối cùng quyết định “gác chương trình” một thời gian vì lý do an toàn. Thế nhưng càng đến gần 9 giờ 30 tối “ma lực quyến rũ” khiến tôi phải mặc chiếc áo poncho vào, nai nịt kín đáo và lên giường nằm chờ. Quái quỷ! 9 giờ 25 rồi mà giọng lão hiệu phó nói chuyện vẫn cứ oang oang bên tai, mà lại nói với tôi mới chết chứ. Cuối cùng tôi chợt nghĩ đến cách quay mặt vào vách, giả vờ ngáy ro ro. Thế là lão ta lầm bầm ...”Mới đó đã ngủ!” Tôi kín đáo mở radio. Khốn khổ, chiếc đài cũ quá nên mỗi lần mở máy lại kêu rồ rồ một lát. Tiếng lão hiệu phó lại lầm bầm bên tai, “Tiếng gì rì rầm như tiếng sấm, ... chắc mưa ở đâu đó.” Tôi thấy lạnh cả cột sống! Tôi nhớ đời buổi “nghe lén” hôm ấy. Thế mới biết ăn vụng và nghe lén mới thú vị làm sao!
Sau khi đoàn công an rút đi, tôi thấy nhẹ cả người. Sau đó lại nghe ban giám hiệu rỉ tai nhau: vụ phóng hỏa là do một học sinh lớp bảy người dân tộc Mường chủ ý đốt trường ... Còn tôi dạy thêm vài tháng rồi nhận lệnh tập trung đi lao động cải tạo tư tưởng hơn nửa năm. Sau đó tôi quyết định tự cho mình “mất dạy”, bỏ ra ngoài lao động chân tay kiếm sống nuôi vợ con.
Tôi vẫn nghe BBC ngày ba buổi, thi thoảng bỏ chương trình buổi chiều vì không chuẩn bị kịp và thích nhất chương trình buối tối vì yên tĩnh và chuẩn bị tốt để nghe hơn. Tôi vẫn nhớ những buổi chia tay chương trình BBC của các anh chị thuộc “thế hệ đầu”, tâm sự với thính giả về bước đường phục vụ chương trình, về trường hợp được đài BBC tuyển dụng ở Hà Nội những năm đầu thập niên 1950 ra sao, khi mà người biết ngôn ngữ Anh lúc đó ở Việt Nam còn hiếm lắm. Ngoài các phát thanh viên đa phần là người Bắc, sau này tôi còn nhớ và thích giọng miền Nam tưng tửng của anh Xuân Hồng. Ngoài tin tức chính xác xảy ra bên đây và bên kia mức màn sắt mà tôi nắm được, BBC radio tiếng Việt còn cho độc giả một khối lượng tin tức thời sự và kiến thức cập nhật về mọi khía cạnh của cuộc sống mà không một phương tiện truyền thông nào vốn cực kỳ dồi dào và ra rả bên đây bức màn có thể thay thế được.
Tôi vẫn nghiện bbc.co.uk/vietnamese. Đó là chương trình mà tôi mở ra trước tiên ngay sau khi khởi động máy vi tính. Thế nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được nhạc hiệu - theo điệu Pasodoble thì phải - và “Đây là đài BBC Luân Đôn” của chương trình phát thanh nhiều năm trước, khi mà trong không khí mùi chiến tranh còn nồng, tiếng đạn pháo kích còn rít lên hay tiếng bom còn rền vọng từ xa, cùng giọng đọc bằng tiếng Việt trầm ấm vẫn phát ra từ chiếc radio đồng hành nhỏ bé và cũ kỹ của tôi.
Phùng-Ngọc Cửu
*Tác giả Phùng Ngọc Cửu cũng là dịch giả cuốn Người Ê Đê - Một Xã Hội Mẫu Quyền (Anne De Hauteclocque-Howe), cùng với nhà văn Nguyên Ngọc.
Ẩn bớt
Đã chia sẻ bài viết
Xem thông tin chi tiết
118
43
2

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

NHỚ THỜI HỌC TRÒ TẬP TÀNH CÀ PHÊ, THUỐC LÁ *Phạm Nga

 Vậy đó, bỗng nhiên mà họ lớn

Tuổi hai mươi đến có ai ngờ…
(Huy Cận)
NHỚ THỜI HỌC TRÒ
TẬP TÀNH CÀ PHÊ, THUỐC LÁ
*Phạm Nga
1.
Đâu khoảng giữa thập niên 60, xong lớp đệ tứ ở trường Les Lauriers ở Tân Định, nhờ đậu trung học đệ I cấp hạng bình, tôi được chuyển vào trường Pétrus Ký, học đệ tam ban C. Lần hồi lên các lớp đệ Nhị rồi đệ Nhất, đám học sinh lứa tôi ít nhiều đã đỡ lóc chóc, có vẻ người lớn hơn, chững chạc hơn. Trong sân trường, duy nhất kiểu đồng phục quần xanh/áo trắng không cá tính, mấy anh lớp lớn dù có nhỏ con đi nữa trông vẫn “người lớn” hơn bọn nhóc đàn em đệ nhất cấp.
Nói là “người lớn hơn” bởi về mặt ngoại hình, dễ thấy là đứa nào cũng lún phún ở mép miệng vài sợi có thể gọi là râu để tập làm quen với dao cạo. Còn về tâm tư, tình cảm, có nhiều đứa ban đầu kín bưng như mèo dấu kít, lâu sau cũng tiết lộ nửa vời với thiên hạ rằng mình đã mần được vài bài thơ kiểu chiều buồn thư viện, ghế đá công viên, thân phận tóc xanh … và trịnh trọng thông báo sắp đi họp với một thi văn đoàn hay nhóm thơ học trò liên trường nào đó.
Nói là “chững chạc” hơn vì dù muốn dù không, việc phải đậu hai cái bằng tú tài đã đặt lên vai những cậu học sinh cuối cấp trung học một trách nhiệm không nhỏ chút nào, như phải có tú tài 1 thì khi bị đi lính mới vô được trường sĩ quan, còn bằng tú tài 2 vốn là điều kiện để dễ kiếm việc làm hơn đối với học sinh con nhà nghèo, không dám mơ học tiếp lên đại học.
Chính trong cơn khủng hoảng tâm-sinh lý tuổi dậy thì cùng những ưu tư mơ hồ về tương lai, đa số tụi tôi thời đó bắt đầu tập hút thuốc lá và uống cà phê. Như thể muốn khẳng định mình là đàn ông, đúng mẫu quý-ông-sành-điệu, các cậu con trai phải hút thuốc, nhả khói và nhâm nhi cà phê thành thạo, nhất là những cậu chưa thấy có cọng ria nào lú ở mép miệng hay không rặn nổi câu thơ nào.
Các bậc cha mẹ – kể cả những ông bố ghiền thuốc – thì nào có thể tán thành, ngược lại còn lo lắng, than thở trước chuyện con trai mình bắt đầu bày đặt làm theo thói hư, tật xấu của cánh đàn ông trên đời. Riêng có bố tôi, thời đó đang làm chủ nhiệm một nhật báo tiếng Pháp ở Sài Gòn, lại rất phóng khoáng – hồi đó bọn tôi gọi những ông bố như ông là “ông pô chịu chơi” – không hề lên tiếng ngăn cấm việc tôi tập hút thuốc.
Nhiều đêm khuya lơ khuya lắc, bố tôi đi dự họp báo hay tiệc tùng gì đó, về nhà thấy tôi ngồi chong đèn ôn bài thi, có lần ông đã dịu dàng hỏi “Học khuya vậy con?” rồi thật bất ngờ: ông lặng lẽ đặt lên bàn gói Caraven A mà ông đang hút dở. Tất nhiên, tôi đâu đến nỗi ngốc nghếch đến không hiểu cái cử chỉ bố tôi trìu mến cho tôi gói thuốc lá chính là cách bố tôi đồng ý cho cậu con trai 17 tuổi của bố được hút thuốc, cũng có nghĩa là ông công nhận tôi không còn là con nít nữa. Khi ấy tôi đã rất cảm kích và xúc động thiệt lâu, thương bố vô cùng và tự nhủ phải ráng đậu tú tài hạng ưu cho xứng đáng với tấm lòng của cha mẹ thương yêu, kỳ vọng nơi mình.
Cũng vào thời đó, các lớp đệ nhị cấp học buổi sáng và khi đến cổng trường thì thường đã cận giờ chuông reo vào lớp, tôi thường chỉ có thể tắp chiếc Mobylette ba-má-cho vào một xe bán điểm tâm đậu trên vỉa hè, vừa ngốn cái bánh sandwich vừa nốc chai sữa đậu nành ướp lạnh, vừa ráng nhớ lấy cái bảng tên ra cài lên ngực, không thì chết với các thầy giám thị. Khúc phim chớp nhóa mỗi tảng sáng ấy hiếm khi cho phép tôi còn thời gian mà đốt một điếu Bastos xanh, thả vài lọn khói, nói chi chuyện nhẩn nha thưởng thức một tách cà phê sáng. Thành ra, chuyện tôi và đám bạn cùng lớp kéo nhau đi ngồi quán cà phê chỉ diễn ra vào những giờ giấc hoàn toàn thong thả, như: đã tan học, giờ trống cuối buổi sáng, trước hay sau những lúc đến trường vào buổi chiều để học võ Vovinam bên sân vận động Lam Sơn sát bên trường, đi đọc sách/tra tài liệu tại thư viện nhà trường, vào dự giờ thực hành nói tiếng Pháp ở phòng thí nghiệm cũ…
2.
Đối với nhiều học sinh các lớp lớn của trường Pétrus Ký thời đó, có hai quán cà phê bình dân ở gần trường đã đóng vai quán ‘ruột”, đó là Cheo Leo và Năm Dưỡng. Hai địa điểm này đã là chỗ tụ tập thường xuyên, quen thuộc của nhóm học Nhị C rồi Nhất C tụi tôi cùng nhiều nhóm học sinh các lớp khác, ban khác trong trường. Tụi tôi “đóng đô” thường nhất là ở Cheo Leo, quán nằm khoảng giữa con hẻm số 109 đường Nguyễn Thiện Thuật (Quận 3), cách trường Pétrus Ký khoảng ½ km, kế là quán Năm Dưỡng, có mặt tiền nhô hẳn ra đường Nguyễn Thiện Thuật…
Vừa rồi, tưởng chuyện dĩ vãng thời đi học đã nhòa nhạt hết trong trí nhớ, tình cờ một ông bạn từ Pháp về, nhất định đòi tôi dẫn đến cà phê Cheo Leo ngày nay. Tôi hiểu bạn mình trong thâm tâm là muốn trở lại với Cheo Leo ngày xưa, cái quán cà phê mà nhiều cựu học sinh Pétrus Ký thường “đóng đô” một thời, cái quán gắn liền với tuổi trẻ chúng tôi như một chứng nhân thời gian thầm lặng mà chung thủy.
Chúng tôi đã biết cà phê Cheo Leo vào thập niên 60 nhưng theo một trang web chuyên viết về Sài Gòn xưa, quán này ra đời năm 1938, tức còn xa xưa hơn rất nhiều. Tìm đến quán vào một buổi chiều mưa nhẹ, tôi mới nhận ra cảnh cũ tới nay hầu như không hề thay đổi, và những người xưa – đám học trò năm nào nay râu tóc đã bạc phơ vẫn thường lai rai đến quán, như để ôn lại hồi ức thời đi học. Nhìn quanh thì vẫn những bộ bàn ghế inox, cũng chiếc ghế sofa gỗ đã 40 – 50 năm tuổi. Bề dày quá khứ của Cheo Leo như đọng lại trên các mặt tường vôi xám xỉn và loang lỗ vết nứt, trần nhà thì ám đen màu khói than, thoang thoảng mùi cà phê từ góc bếp.
Trước tháng 4-75, dù không thuộc hạng nổi tiếng của Sài Gòn nhưng cà phê Cheo Leo vẫn là địa điểm quen thuộc của đám con trai các trường Pétrus Ký, Chu Văn An thời đó. Hơn 80 năm qua, Cheo Leo đã tồn tại cùng gia đình ông Vĩnh Ngô (người gốc Huế, chủ quán) đến thế hệ thứ 3. Còn về số khách “ruột” của quán, tức đám học sinh tập tành cà phê, thuốc lá như tụi tôi một thời, hiện ít nhất cũng đã thuộc lứa U.70 trở lên.
Hầu hết người Sài Gòn hiện tại chỉ biết đến cà phê phin, riêng giới trẻ thì thích cà phê ly giấy kiểu fast-food hay cà phê xay kiểu Ý, kiểu Mỹ… Vậy mà vẫn có nhiều người trong đám U70 chúng tôi hay các vị cao niên hơn, đều chỉ muốn tìm đến cà phê vợt – một loại cà phê giản dị, bình dân, tồn tại từ lâu đời, bán ở những tiệm nước, quán cóc ngõ hẻm hay dọc các con đường nhỏ. Pha vợt thì hương cà phê hòa cùng mùi khói bếp củi than, khi nhâm nhi cà phê, người ta lãng đãng cảm nhận được rời rã vài mảng ký ức xa xưa của đất Sài Gòn. Tiếc thay ở thành phố này hiện còn rất ít quán xá còn lưu giữ cách pha cà phê mộc mạc này…
3.
Tách cà phê sữa-ít-sữa trên bàn đã cạn sạch, cũng đã xong hai điều thuốc Hòa Bình – định mức nghiêm nhặt cho mỗi chầu cà phê ở tuổi già cao huyết áp. Tôi nghĩ mình thật ngây ngô, buồn cười cái thời mình 17,18 tuổi, nhất là vào những ngày tháng ôn thi hai cái tú tài, mà chính từ quán Cheo Leo này tôi đã chính thức mua thuốc lá nguyên gói và cà phê sữa-ít-sữa cũng chính thức trở thành “gu” uống riêng của tôi.
“Vậy đó, bỗng nhiên mà họ lớn/ Tuổi hai mươi đến có ai ngờ…”. Tôi hồi tưởng về thời học trò mới lớn của mình mà như đang sống lại nỗi ngỡ ngàng tuyệt diệu trong câu thơ Huy Cận. Vậy đó, thật là vừa tội vừa thương cái chân dung vụng dại của những cậu con trai bắt đầu biết suy tư chuyện đời, mơ mộng vài tà áo dài trắng, lén lút làm thơ, tập tới lui mấy tình khúc TCS, bập bẹ điếu thuốc, thách nhau thả khói lọn tròn và rủ nhau đến hoài một quán cà phê quen… -./.
PHẠM NGA
*Trích nguồn https://vietvanmoi.fr/index3.11152.html
Ẩn bớt
Đã chia sẻ bài viết
Xem thông tin chi tiết
94
30
5
Xem thêm bình luận
Sáng cuối tuần, vào Fb thấy anh ấy, đọc từng câu và như thấy mình trong nớ; em cảm ơn anh Đạt nhiều hi!
  • Trả lời
  • Ẩn
  •  
    Tác giả
    Trần Đình Chỉ Cám ơn em có sự đồng cảm... người gắn nhiều kỷ niệm với Ban Mê xưa.
  • Trả lời