Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Vietnam

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

GIAI THOẠI VỀ MỘT CÂU CA *Trần Xuân Toàn

 Xứ Thượng

Tại làng Lạc Giao-Ban Mê Thuột... có thờ thần hoàng của làng là danh nhân Đào Duy Từ.
GIAI THOẠI VỀ MỘT CÂU CA
*Trần Xuân Toàn
Bình Định xưa là nơi đất lành chim đậu. Chuyện cách đây hơn 4 thế kỷ, có một người con nhà ca kỹ "xướng ca vô loại" ở đất làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nổi tiếng thông minh và hiếu học, vì luật lệ hà khắc của chúa Trịnh không cho phép con nhà xướng ca ứng thí khoa trường, đã quyết chí tìm đường lập thân ở xứ Đàng Trong.
...
Ở làng Tùng Châu, phủ Hoài Nhân (Hoài Nhơn ngày nay) tỉnh Bình Định, Đào Duy Từ được các thân hào nhân sĩ nhìn nhận. Quan Khám lý Cống quận công Trần Đức Hòa, nhân vật có tên tuổi lúc bấy giờ và là em kết nghĩa với Sãi Vương, thương yêu gả con gái cho và tiến cử lên Sãi Vương, được Vương mến phục và trọng dụng. Nhớ lại buổi đầu dừng chân ở đất này, sách trên có chép: "Một hôm Duy Từ đi qua phủ Hoài Nhân. Nơi đây địa hình phong phú tươi đẹp, phong tục hào hiệp, Duy Từ quyết chí ở lại đây tìm chỗ nương thân trong thôn ấp, chịu làm đầy tớ nhà người để tìm kế lập thân. Nhưng Duy Từ vẫn chưa tìm được nơi vừa ý, đành phải dừng chân ở quán nước nghỉ ngơi..."
Một kẻ chăn trâu ở mướn mà luận bàn với các ông nho học ở làng về lẽ nho quân tử, nho tiểu nhân và kẻ chăn trâu anh hùng, kẻ chăn trâu tôi tớ... thì đâu phải là kẻ bình thường trong thiên hạ.
Chuyện Đào Duy Từ rời bỏ quê hương ở Đàng Ngoài chạy vào Đàng Trong theo Chúa Nguyễn gắn liền với giai thoại một câu ca nói về mối quan hệ giữa một Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài với Đào Duy Từ ở Đàng Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh.
Giai thoại kể rằng: Sau khi Đào Duy Từ bỏ vào Đàng Trong theo Chúa Nguyễn, Trịnh Tráng sai người đưa thư và lễ vật vào Nam chiêu dụ Đào ra Bắc với mình. Đào không ra và gửi cho Chúa Trịnh bài thơ sau:
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thửa nào ra?
Trịnh Tráng lại tiếp tục cho người vào gặp Đào Duy Từ một lần nữa. Ông vẫn không ra và gửi tiếp cho Chúa Trịnh hai câu sau :
Có lòng xin tạ ơn lòng
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen.
Trịnh Tráng tức giận bèn làm mấy câu hát nhắn với Đào:
Có ai về tới Đàng Trong
Nhắn nhe bố đỏ liệu trông đường về
Mải tham lợi, bỏ quê quán tổ
Đất nước người, dù có như không...
Giai thoại là thế chẳng biết hư thực thế nào. Phải đâu Đào "mải tham lợi, bỏ quê quán tổ" mà chỉ vì Bình Định là nơi đất lành thì chim đến đậu, nơi đãi sĩ chiêu hiền, dưỡng nuôi bao tài năng văn hóa, văn học cho dân, cho nước.
Câu ca bây giờ được giảng dạy ở nhà trường phổ thông lớp mười:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra?
Các em có biết đâu rằng câu ca đã một thời gắn liền với mảnh đất vốn trọng sĩ, đãi hiền có bề dày văn hóa lịch lãm và thượng võ là Bình Định quê ta.
. Trần Xuân Toàn
(Trích đoạn theo nguồn http://www.baobinhdinh.com.vn/643/2003/8/5376/)
Ẩn bớt
Không có mô tả ảnh.
Xem thông tin chi tiết
159
22
10

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

NGÁT HƯƠNG NGỌC LAN *Thầy Thích Như Minh

 Xứ Thượng

Nước chảy... mây trôi...
NGÁT HƯƠNG NGỌC LAN
*Thầy Thích Như Minh
Chùa Khải đoan là một ngôi chùa danh tiếng ở thành phố Ban Mê Thuột. Chùa Khải đoan được Đoan Huy Hoàng Thái Hậu Hoàng Thị Cúc tôn tạo trên khu đất rộng 7 mẫu 8 sào và 28m2 để hiến cúng cho Tổng Hội Phật Giáo trung phần. Toàn bộ kiến trúc chùa bằng gỗ theo cách dựng nhà sàn ở Tây nguyên. Thế tựa vào núi trước mặt là dòng sông. Hoàng triều cử thứ phi Mộng Điệp theo dõi việc tôn tạo được khởi công vào năm 1951.
Lúc bấy giờ Hòa thượng Thích Trí Thủ là Trị sự trưởng Tổng hội Phật giáo trung phần tiếp nhận và cử người đệ tử đầu là Thầy Đức Thiệu giám sát. Căn cứ theo bức thư hiện còn lưu giữ, thì Khải Đoan tự là do Đoan Huy Hoàng Thái Hậu đặt tên: “...với một số tín đồ Phật giáo vui lòng hưởng ứng, phụ lực, tôi đã cho xây dựng (chùa) từ năm 1953 và mang danh ba chữ Khải Đoan tự cho trang nghiêm, tôn phụng” (Đoan Huy Hoàng Thị Cúc – Thư gửi Tổng trị sự giáo hội Tăng gia Trung Việt và Hội Việt Nam Phật học ngày 01/3/1953). Đến năm 1955 vua Bảo Đại phong Sắc tứ Khải đoan.
Chùa đã trải qua bảy đời trú trì Thầy Thích Đức Thiệu, Thầy Thích Từ Mãn, Thầy Thích Thiện Nhơn, Thầy Thích Viên Đức, Thầy Quản Hương vị Thầy đã phát nguyện tự thiêu mình tại chợ Bến thành trong năm pháp nạn 1963, Thầy Thích Quang Huy và trú trì đời thứ 7 là Thượng Tọa Thích Châu Quang.
Bước vào cổng tam quan của chùa Khải Đoan người ta sẽ thấy những câu đối chữ nho mặt tiền:
Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh nhân gian hành chánh đạo
Tuyên kinh thuyết pháp phổ thông thiên hạ khởi từ tâm
Sáng chuông chiều trống, cảnh tỉnh người đời theo nẻo
chánh.
Giảng kinh nói Pháp, khắp nơi thiên hạ phát từ tâm
Mặt sau cửa có hai câu:
Khải nhập thiền môn tự giác viên thành vô nhị pháp
Đoan nghiêm Phật tử tu hành đắc đạo hữu tam thừa
Vào cửa thiền môn tự giác tròn đầy, không hai pháp.
Phật tử trang nghiêm, tu hành đắc đạo, đủ tam thừa
Chùa có một bảo vật là Đại hồng chung đúc năm Quí tỵ nhằm tháng 01 năm 1954 có ghi dòng chữ Tường vân tự Đường thượng ...
Chùa còn có một cây Bồ đề sum sê tươi tốt quanh năm. Cây Bồ đề này của Đại đức Narada người Tích Lan đem từ Colombo nước Tích qua tặng cho chùa vào dịp viếng thăm 1962.
Nhớ lại chùa xưa, tôi vô cùng nhớ hình ảnh giải thoát thương đời thương Đạo của chúng Tăng và quí thầy ở đây. Đó là Thầy Quang Huy trú trì chùa Khải Đoan, Thầy Quán Tâm Chánh đại diện tỉnh hội Phật giáo Đắc lắc cũng là vị hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ đề Ban mê thuột, Thầy Định Hương, Thầy Huệ Hương, Thầy Phước Thông, Thầy Nguyên Tịnh, Thầy Hải Tịnh, Thầy Từ Vân, Thầy Nguyên Hạnh, Thầy Như Hải, Thầy Quán Chơn, Thầy Như Minh, Thầy Châu Quang, Khế Đạo, Trương Văn Tỵ, Đỗ Trọng Khôi, Hải Định. Các thầy đã thương tôi và khích lệ cho tôi học ở Trường Trung học tổng hợp Ban mê thuột.
Nhớ lại ngày tôi nhập chúng ở chùa Khải Đoan là một chiều cuối hạ năm 1971 trước ngày khai giảng trường. Khi ấy, Quan Âm các nằm bên trái trước chùa vừa lúc hoàn thành. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy kiến trúc và hoa văn rồng phượng của Huế. Màu sắc vẻ đẹp thanh thoát của Quan Âm các có tôn tượng Quán Thế Âm thật là đẹp hai bên có hai câu đối khắc trên hai trụ mặt trước: Phụng các trang nghiêm Quán Tự Tại Liên đài tráng lệ kiến Như Lai
...
Tôi nhớ mùi hương ngọc lan tỏa ngát vào mỗi đêm ở trước sân chùa. Những đêm tôi thường ra ngồi bậc cấp trước sân chùa để ôn vội bài học cho ngày hôm sau. Những kỳ thi thì tôi thường thức khuya hơn. Hương thơm về khuya càng sâu đậm. Những đêm sau cơn mưa tạnh, thì hương ngọc lan thật quyến rũ. Có buổi khuya ngồi trước hiên chùa thỉnh chuông, hương ngọc cũng phảng phất dễ chịu xóa đi cơn buồn ngủ của tôi. Tôi cũng không biết hương thơm tự bản chất của ngọc lan hay là do ảo tưởng của tôi. Cây ngọc lan này tươi tốt cao lớn trổ hoa quanh năm. Tôi biết hoa ngọc lan khó chăm bón khi cây còn nhỏ, kén chọn thời tiết và độ ẩm của đất. Nhưng bây giờ, đang là mùa đơm bông và tôi đang tận hưởng mùi hương ngọc lan ngây ngất dịu dàng này.
Qua mùa xuân ngọc lan vẫn còn tiếp tục tỏa hương. Mùa xuân về trên cao nguyên với những nụ mai khoe sắc vàng thắm. Tôi rất náo nức chờ đêm giao thừa đến để tận hưởng bầu không khí tưng bừng của giờ phút thiêng liêng này. Khi tiếng đại hồng chung và tiếng trống gióng lên, thì tiếng pháo mừng xuân cũng vang lên khắp nơi. Sau lễ cúng giao thừa, múa lân và chúc xuân. Mùa xuân ở chùa Phật tử rộn rịp tươi vui đi xin hái lộc ở chùa. Cầu cho một năm an bình hạnh phúc...
...
Thầy Thích Như Minh
(Trích Hồi ký của Thầy Thích Như Minh- Phần VII-Hương Ngát Ngọc Lan- NƯỚC CHẢY MÂY TRÔI đăng trên http://ducquanam.com/)
Ẩn bớt
Có thể là hình ảnh đen trắng
Xem thông tin chi tiết
131
28
7
Xem thêm bình luận
Thi Duyen Nguyen
Giờ đổi thay nhiều anh ha
3
Tác giả
Xứ Thượng
Thi Duyen Nguyen Có sự hợp nhất lại Phật Giáo ở đây!!
1