1 ngày trước
s͏n͏d͏p͏o͏S͏o͏t͏e͏r͏2͏ ͏1͏9͏1͏6͏3͏a͏ ͏0͏l͏8͏g͏0͏h͏l͏i͏1͏1͏u͏3͏l͏ú͏7͏7͏0͏:͏t͏0͏á͏i͏c͏0͏5͏g͏c͏ ͏6͏2͏4͏f͏g͏2͏8͏n͏c͏ ͏a͏g͏l͏ ·Đã chia sẻ với Công khai
Trích theo "Lịch sử và nguồn gốc đồng bào Thượng" của Nguyễn Xuân Viên – Tạp chí Văn Hữu số 20 năm 1963
TÌNH HUYNH ĐỆ KINH - THƯỢNG QUA LỊCH SỬ
*Nguyễn Xuân Viên
Đã cùng một huyết thống và đã chung sống trên cùng một dải đất qua nhiều triều đại tất nhiên phải có những liên hệ tình cảm, văn hóa cũng như chính trị kinh tế và xã hội.
Gác ra ngoài những sự xích mích xung đột nhất thời không tránh được trong những thăng trầm của một dòng lịch sử hàng mấy ngàn năm, chúng ta thấy mối tình huynh đệ Kinh – Thượng qua thời gian và không gian thật là thắm thiết.
Những liên lạc về kinh tế, những liên hệ về văn hóa cũng như tình cảm, cùng với những liên quan về lịch sử đã quyện lại để hun đúc cho toàn thể dân tộc Việt, dù là sơn cước hay đồng bằng, một tinh thần tương thân tương trợ rất đáng được lưu ý.
Thật vậy, từ xưa tới nay đồng bào sơn cước tuy lúc thường vẫn sống một cuộc đời bình thản trong các buôn bản, nhưng khi quốc gia hữu sự, đất nước bị ngoại xâm, đã không ngần ngại góp phần xương máu.
Đinh Tiên Hoàng, người đã có công thống nhất giang sơn hồi thế kỷ thứ IX, phải chăng đã phất ngọn cờ lau từ động Hoa Lư (Ninh Bình) bấy giờ là một đất Mường?
Hồi thế kỷ thứ 12, Chân Lạp nhiều lần xâm lấn các bộ lạc Cao Nguyên, uy hiếp Chàm và Việt Nam, nhà Lý đã liên kết với vua Chàm và các bộ lạc Cao Nguyên để chống cự. Bấy giờ Lý Thần Tôn sai tướng là Lý Công Bình đi dẹp; Chân Lạp lui quân và chịu sang triều cống nhà Lý.
Đời Trần, khi quân Nguyên xâm lấn Việt Nam, sau khi bị bại ở trận Đông Bộ Đầu với Trần Hưng Đạo, giặc Nguyên rút lui về Vân Nam khi đi qua Trại Quý Hòa còn bị chủ trại là một dòng họ Thổ đem dân binh ra tập kích một trận vô cùng tai hại.
Ông Robequain, khi nghiên cứu đến tỉnh Thanh Hóa, cũng công nhận trong cuốn “Le Thanh Hóa” trang 108 rằng: “Lê Lợi, người sáng lập ra nhà Lê, sinh trưởng ở Lam Sơn một đất Mường thuộc phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, đã chọn những viên tướng đầu tiên của ông trong số những người Mường”. Quang Trung Nguyễn Huệ, người đuổi quân Thanh để đem lại độc lập cho nước nhà, đã dấy nghiệp ở An Khê (vùng Thượng Bình Định) và những quân lính tướng lãnh đầu tiên của người cũng đã là những đồng bào Thượng Bahnar ở vùng đó.
Nguyễn Kim, sáng lập ra nhà Nguyễn, cũng sinh trưởng ở Gia Miếu, một đất Mường thuộc phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Hồi gần đây, khi quân Pháp đến xâm chiếm Việt Nam, vùng Thượng Trung Việt đã là nơi nương náu của vua Hàm Nghi, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Mai Xuân Thưởng. Lịch sử còn ghi việc Cai Mao, một quan Châu Mường ở Điền Lư, và Đề Thám ở Yên Thế, một đất Thổ Bắc Giang, kháng chiến anh dũng trước cuộc xâm lăng của người Pháp. Năm 1891, Đèo Văn Trí, một quan Châu Thái, cũng đã đưa quân đánh úp đồn Tuyên Quang giết chết đồn trưởng Pháp bấy giờ là Bobillot.
Cuộc kháng chiến chống Pháp của đồng bào Thượng Cao Nguyên miền Nam cũng không kém phần ác liệt:
Năm 1859, người Pháp chiếm Gia Định và có ý bành trướng thế lực lên miền Bắc, nhưng chỉ sau đó 3 năm, năm 1862, đồng bào Nam Việt đã hợp lực với các dòng Stieng, Churu nổi lên chống trả ở phía Bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa và Bà Rịa. Tất cả các tiền đồn của người Pháp ở phía Bắc Gia Định đều bị tấn công. Người Pháp phải cử hai Trung tá Coquet và Loubère đi chinh phạt.
Năm 1869, một cuộc khởi nghĩa khác do dòng Stieng chủ trương lại nổi lên ở Tây Ninh trong vùng Trảng Bàng.
Cuộc xâm nhập của người Pháp vào vùng Cao Nguyên Trung Việt cũng vô cùng vất vả.
Tuy từ cuối thế kỷ XIX, các nhà truyền giáo đã đặt chân lên vùng Kontum và đã xây dựng được một cơ sở vững chắc, nhưng đất Cao Nguyên hồi bấy giờ vẫn còn là một vùng đất bí hiểm đối với nhà cầm quyền Pháp. Từ những năm 1893, các dòng Radhé và Jarai đã không những không chịu hợp tác với người Pháp mà còn tỏ ra chống đối. Năm 1900, Lê Võ Trụ đã chỉ huy một đội ngót một ngàn người Thượng đánh úp Sông Cầu (Phú Yên). Năm 1904, Odend’hal hướng dẫn một đoàn thám hiểm tiến vào vùng Thượng đã bị đồng bào Jarai giết chết. H. Maitre cũng bị đồng bào Mường hạ trong một cuộc thám hiểm khác năm 1914. Đồng bào KaTu ở Quảng Nam cũng đã từng nổi lên cùng đồng bào Thượng Quảng Ngãi chống đối mãnh liệt trong những năm 1920-1921. Bộ lạc Bahnar Roh ở An Khê cũng đã nổi lên kháng chiến chống Pháp hồi 1924-1925-1926. Đồng bào địa phương còn ghi nhớ những trận làng Có và làng Thắng (tức là hai làng Pleikon-krui và Plei-Djigang). Năm 1940 dưới quyền chỉ huy của Yong đồng bào Bahnar ở An Khê lại một lần nữa nổi lên chiến đấu và gây khá nhiều tổn thất cho người Pháp. Nhưng với võ khí thô sơ dĩ nhiên là cuộc kháng chiến phải đi đến thất bại. Khi quân Pháp kéo vào làng, Yong đã họp tất cả dân làng ở nhà Rong, hiên ngang cầm giáo ra tuyên bố với người Pháp: “Tôi đã thề trước dân làng là không bao giờ tôi chịu để người Pháp đặt chân đến đây, thế mà ngày nay tôi đã sai lời hứa, vậy tôi xin lấy cái chết để tự xử”. Nói xong Yong dựng ngọn giáo trước ngực và choài mình tới để giáo đâm thẳng vào tim chết trước lòng thán phục của quân địch.
Cuộc chống đối của đồng bào Thượng đã diễn ra tại khắp vùng Cao Nguyên và dưới nhiều hình thức hoặc bạo động, hoặc bất hợp tác, hoặc đốt nhà đốt làng trốn vào rừng, v.v… suốt từ khi có mặt người Pháp trên Cao Nguyên cho mãi đến hồi 1945 không lúc nào là không có. Tuy những cuộc chống đối đó không thu lượm được kết quả mong muốn những cũng đã gây rất nhiều khó khăn cho người Pháp và đã trực tiếp góp phần vào công cuộc kháng chiến giành độc lập của toàn thể dân tộc.
Để thay lời kết, chúng tôi xin trích dịch một câu của ông Robequain trong cuốn “Le Thanh Hóa” trang 108 như sau:
“Vùng rừng núi hiểm trở đó không phải lúc nào cũng sống một cuộc đời riêng biệt và thấp kém, trái lại đã góp mặt vào những biến cố lớn của lịch sử vùng đồng bằng và của cả Việt Nam, chính những vị vua chúa sáng lập ra những triều đại hiển hách nhất đã xuất thân dưới bóng các vùng rừng núi đó, và chính cũng nhờ những người dân can đảm của vùng này mà lòng yêu nước của người Việt đã tìm được sự nương náu cuối cùng trong những giờ nghiêm trọng khó khăn, để hun đúc nên những yếu tố thành công sau này”.
Câu này ông Robequain đã dùng để chỉ riêng vùng rừng núi Thanh Hóa, nhưng ở đây, chúng tôi xin mạn phép tạm mượn để nói chung cho tất cả các vùng Thượng từ Nam chí Bắc.
Nguyễn Xuân Viên
*Trích đoạn trên nguồn https://thuviennguyenvanhuong.vn/lich-su-va-nguon-goc...
Ẩn bớt
Xem thông tin chi tiết
42
5

